cách an sao tuần triệt

A. Do giai cấp tư sản lãnh đạo. Cách mạng tư sản Pháp được đánh giá là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất thời cận đại vì nó đã thực hiện triệt để những nhiệm vụ của một của cách mạng tư sản: – Lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế, thống nhất thị Tuần Triệt không tính theo Âm Dương Nam Nữ, chỉ tính theo Âm Dương. Sao này ghi 4 chữ, Tuần Trung Không Vong, Triệt Lộ Không Vong, cung cùng âm hay đương với tuổi thì ghi Không Vong, còn cung kia ghi 2 chữ Tuần trung, triệt lộ. Gặp 2 chữ Không Vong thì xấu nhất, chịu ảnh hưởng 70 Tuần Triệt là những bộ sao cuối cùng trong khoa tử vi do Quảng Nguyên biên soạn. Sao Tuần Và Triệt rất khó hiểu với nhiều người, tuy nhiên qua bài viết dưới đây của chúng tôi, các bạn sẽ có cái nhìn đa chiều và dễ hiểu hơn rất nhiều. Cách an sao Tuần – Triệt: Tuần Triệt trong tử vi, từ cổ xưa đến nay không thấy sách nào nói đến cái sứ mạng rành mạch của hai sao này làm việc, mà xem ra nó lại có một nhiệm vụ như khá quan trọng trong cách phán quyết của nó, nay tôi chỉ xin trình bày một ít ý kiến gọi là phân tách kinh nghiệm của tìm tòi. Từ các tiền đề này tôi đã phát hiện ra cách để phá giải cung bị Tuần Triệt trong Tử vi, đó là sử dụng cung xung chiếu. Như ông Thienkyquy đã viết, khi hạn đến cung đối xung cung bị Tuần Triệt thì Không vong được tháo gỡ, điều này có nghiệm lý đúng trong thực tế motor beat tidak bisa distarter dan diengkol. Tam Nguyên An 2 sao Địa-kiếp, Địa-không Gọi tắt là KIẾP KHÔNG Theo giờ sinh Kiếp thuận , Không nghịch ĐỊA-KIẾP Kể cung Hợi là giờ Tý, tính thuận tới giờ sinh , ngưng tại cung nào an Địa kiếp tại cung ấy . ĐỊA-KHÔNG Kể cung Hợi là giờ Tý, tính nghịch tới giờ sinh , ngưng tại cung nào an Địa không tại cung ấy . Thí dụ Người sinh giờ Mão An Địa-kiếp tại cung Dần , an Địa-không tại cung Thân. THƠ Kiếp không khởi tự Hợi cung Không nghịch kiếp thuận , long hung tuỳ thời NHẬN XÉT ĐỂ GHI NHỚ 1 KIẾP KHÔNG ĐỒNG CUNG Sinh giờ Tý Kiếp Không đồng cung tại Hợi Sinh giờ Ngọ Kiếp Không đồng cung tại Tỵ 2 KIẾP KHÔNG GIÁP BIÊN Sinh giờ Sửu, giờ Hợi Kiếp Không giáp biên tại Hợi Sinh giờ Tỵ, giờ Mùi Kiếp Không giáp biên tại Tỵ 3 KIẾP KHÔNG CƯ 2 CUNG XUNG CHIẾU NHAU Sinh giờ Mão Kiếp an tại Dần. Và an Không tại Thân cung Sinh giờ Dậu an Địa-kiếp tại cung Thân Và an Địa-không tại cung Dần Tập bấm cung ở bàn tay 2 sao Địa-kiếp, Địa-không này , an theo giờ sinh , sẽ nhập tâm được sinh giờ nào , có cách đồng cung , giờ nào có cách giáp biên , và giờ nào sẽ cư cung xung chiếu nhau, để sau không phải tính tới Kiếp Không khi lấy số. An Mạnh-chủ Tuỳ theo năm sinh. Người sinh năm Tý an Mạnh chủ với Tham-lang Người sinh năm Sửu Hợi an Mạnh chủ với Cư-môn _ _ _ Dần Tuất_ _ _ _ Lộc-tồn _ _ _ Mão Dậu_ _ _ _ Văn-khúc Người sinh năm Ngọ an Mạnh chủ với Phá-quân _ _ _ Thân Thìn an Mạnh chủ với Liêm -trinh _ _ _ Mùi Tỵ _ _ _ _ Vũ-khúc An Thân- chủ Người sinh năm Tý an Thân chủ với Linh-tinh _ _ _ Sửu Mùi _ _ _ Thiên-tướng _ _ _ Ngọ _ _ _ Hoả-tinh _ _ _ Dần Thân _ _ Thiên-lương _ _ _ Mão Dậu _ _ Thiên-đồng _ _ _ Thìn Tuất _ _ Văn-xương _ _ _ Tỵ Hợi _ _ _ Thiên-cơ. Thơ an Mạnh-chủ Mạnh –chủ sao lại kể ra Tuổi Hợi, tuổi Sửu cùng nhà Cự –môn Dần Tuất Hợi với Lộc-tồn Mão Dần Văn Khúc Chuột còn Tham-Lang Vũ-khúc Rắn trắng Dê vàng Liêm trinh Rồng Khỉ, Ngựa hàng Phá quân Thơ an Thân- chủ Thân –chủ ngộ hãm thời hung Người mà tuổi Tý hội cùng Linh-tinh Tuổi Ngọ sao Hoả một mình Sửu Mùi Thiên-tướng Thiên-lương Thân Dần Thiên-đồng Mão Dậu xuất thân Thiên cơ Tỵ Hợi một phần không sai Thìn Tuất Văn-xương an bài Đồng cung Thân Mạnh mấy ai sành tầy. An sao Triệt-lộ Gọi tắt là Triệt TRIỆT Tuỳ theo hàng can của tuổi sinh, mà định cung an sao Triệt. Sao Triệt cư giữa vị trí của 2 cung SINH THUỘC CAN CUNG AN TRIỆT Giáp Kỷ Thân Dậu Ất Canh Mùi Ngọ Bính Tân Thìn Tỵ Đinh Nhâm Dần Mão Mậu Quý Tý Sửu BẢNG KÊ TRIỆT AN TẠI 10 CUNG BÍNH TÂN ẤT CANH GIÁP KỶ ĐINH NHÂM MẬU QUÝ Thí dụ Người sinh năm Bính Dần hay Tân Tỵ An Triệt ở giữa 2 cung Thìn và Tỵ Tam Nguyên THƠ AN TRIỆT Triệt không thời Giáp Kỷ Hầu Kê ất Canh Mùi Ngọ đi về Bính Tân Thìn Tỵ vẫn nề xưa nay Đinh Nhâm Dần Mão sánh bày Mậu Quý Tý Sửu phương này lạ thay. An sao Tuần không Gọi tắt là TUẦN TUẦN Muốn an sao Tuần, phải tính xem tuổi sinh thuộc Giáp nào trong Lục giáp. Vì sao Tuần an theo giáp, thường gọi là con nhà giáp nào, thí dụGiáp Tý, Giáp Tuất. Tuần cũng cư ở vị trí giữa 2 cung như sao Triệt. Tính thấy tuổi sinh thuộc Giáp nào Một Giáp là 10 tuổi Cung an Tuần Khởi từ Giáp Tý tới Quý Dậu Tuất + Hợi Khởi từ Giáp Tuất tới Quý Mùi Thân + Dậu Khởi từ Giáp Thân tới Quý Tỵ Ngọ + Mùi Khởi từ Giáp ù Ngọ tới Quý Mão Thìn + Khởi từ Giáp Thìn tới Quý Sửu Dần + Mão Khởi từ Giáp Dần tới Quý Hợi Tý + Sửu BẢNG KÊ TUẦN AN TẠI 12 CUNG GIÁP NGỌ GIÁP THÂN GIÁP TUẤT GIÁP THÌN GIÁP TÝ GIÁP DẦNÙ Xem bảng kê dưới Phải tính tuổi sinh thuộc con nhà Giáp nào, để an sao Tuần tại cung nào. Người sinh tuổi Thuộc Giáp nào Cung an Tuần Ất Sửu hay Nhâm Thân Giáp Tý Tuất Hợi Ất Hợi hay Nhâm Ngọ Giáp Tuất Thân Dậu Ất Dậu hay Nhâm Thìn Giáp Thân Ngọ Mùi Ất Mùi hay Nhâm Giáp Ngọ Thìn Tỵ Ất Tỵ hay Nhâm Tý Giáp Thìn Dần Mão Ất Mão hay Nhâm Tuất Giáp Dần Tý Sửu Cách ghép can chỉ để biết thuộc Giáp nào trong 6 Giáp, vì Thiên can chỉ có 10 hàng , mà địa chỉ có 12. 1Bắt đầu lấy chữ đầu của hàng can là Giáp, đem ghép với chữ đầu của hàng chi, thành ra Giáp Tý , nếu cứ ghép xuôi tới 10 hàng , thì chữ Quý cuối cùng của 10 hàng can sẽ gặp địa- chi Dậu, như vậy là hết 1 Giáp, và các tuổi từ Giáp Tý tới Quý Dậu sẽ thuộc con nhà Giáp Tý. 2Lại tiếp tục lấy chữ đầu của hàng can là Giáp , ghép với chữ Tuất của hàng chi còn lại, nhập chung lại sẽ thấy Giáp Tuất, và cứ như thế , thứ tự nạp xuôi , tới khi chữ Quý cuối cùng bên hàng can , gặp chữ nào ở bên địa-chi, tức là hết một Giáp , như vậy tuổi từ Giáp Tuất tới Quý Mùi đều thuộc con nhà Giáp Tuất cả. 3Cứ thứ tự nạp xuôi như trên , sẽ thấy hiện ra 5 vòng địa-chi hợp với 6 vòng Thiên can , cho đủ 60 năm , mới đủ 6 giáp. Vì Thiên can có 10 hàng , phải 6 lần mới đủ 60 năm. Và địa-chi có 12, chỉ 5 lần đã đủ 60 năm, nên khi ghép can với chi , mới thấy thừa lại 2 hàng địa-chi , ngay từ giáp đầu là Giáp Tý, và phải ghép đủ với nhau 60 năm mới thấy bên Thiên can tới chữ Quý, thì bên địa-chi cũng tới chữ Hợi Như vậy , năm Giáp Tý là năm khởi đầu của một vòng 60 năm và năm Quý Hợi là năm cuối cùng của 1 vòng 60 năm. Và trong 1 vòng 60 năm , gồm đủ tục Giáp như ta thường thấy . THƠ AN TUẦN Tuần không tính nghịch vòng quanh Giáp Tý Tuất Hợi ngóng trông đêm ngày Giáp Tuất Thân Dậu giãi bày Giáp Ngọ Thìn Tỵ Giáp Thân Ngọ Mùi Giáp Thìn Dần Mão nhớ ai Giáp Dần Tý Sửu không sai một phần . CÁCH AN SAO TUẦN TRÊN BÀN TAY Phải tính tuổi sinh thuộc con nhà giáp nào , để an sao Tuần trên 12 cung. Thập can có 10 hàng là Giáp ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý. COI NHƯ MỘT BÀI THƠ Đọc ngược lại nhập tâm là Quý Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh Bính ất Giáp. Nguyên tắc Bấm tuổi sinh vào cung địa bàn ,rồi đọc ngược , và bấm ngược hàng can , bắt đầu từ can tuổi sinh tới Giáp, vì chữ Giáp là đầu của thập can . Thí dụ Người sinh tuổi Bính Dần -Bấm can Bính vào cung Dần ,rồi đọc ngược hàng can Bính Ất Giáp. Sẽ thấy Bính ở cung Dần ất ở cung Sửu Và Giáp ở cung Tý Như vậy biết ngay, tuổi Bính Dần thuộc con nhà Giáp Tý, an sao Tuần ở giữa hai cung Tuất Hợi. ¯ CỰ MÔN NAM MẠNH CA Cự môn Tý Ngọ nhị cung phùng. Cục trung đắc ngộ rĩ vi vinh. Tam hợp hoá cát Khoa Quyền Lộc Quan cao cực phẩm y tử bác. NGUYÊN TẮC AN SAO TUẦN Sao Tuần an theo lục giáp Vị trí lục giáp trên bàn tay 1 Giáp Tý ở cung Tý an sao Tuần tại Tuất Hợi. 2 Giáp Tuất ở cung Tuất an sao Tuần tại Thân Dậu. 3 Giáp Thân ở cung Thân an sao Tuần tại Ngọ Mùi. 4 Giáp Ngọ ở cung Ngọ an sao Tuần tại Thìn Tỵ. 5 Giáp Thìn ở cung Thìn an sao Tuần tại Dần Mão. 6 Giáp Dần ở cung Dần an sao Tuần tại Tý Sửu. Tam Nguyên MỘT GIÁP CÓ 10 TUỔI TỪ GIÁP TÝ TỚI QUÝ DẬU Hình vẽ áp dụng an sao Tuần. Thí dụ người sinh tuổi Bính Dần Thuộc con nhà giáp nào NGUYÊN TẮC TÌM TUỔI THUỘC GIÁP NÀO Bất kể tuổi sinh nào , nạp ngược và bấm cung ngược , khởi từ can tuổi sinh , tới khi giáp gặp cung nào, tức là tuổi sinh thuộc Giáp ấy. Nạp âm và bấm nghịch Bính Ất Giáp . Bính tại cung Dần. Ất tại cung Sửu Giáp tại cung Tý,như vậy tuổi sinh thuộc Giáp Tý An sao Tuần ở Ất Hợi. MỘT GIÁP CÓ 10 TUỔI KHỞI TỪ GIÁP TỚI QUÝ Áp dụng tìm an sao Tuần. Thí dụ người sinh tuổi ất Hợi Thuộc con nhà giáp nào NGUYÊN TẮC Bất kể tuổi sinh nào , nạp ngược hàng can ,cho tới khi giáp gặp cung nào, tức là tuổi sinh thuộc Giáp ấy. Nạp âm và bấm ngược hàng can Ất Giáp . Bấm Ất vào cung Hợi. Giáp vào cung Tuất, như vậy tuổi Ất Hợi thuộc Giáp Tuất. An sao Tuần tại Thân Dậu cung. GIÁP ĐỨNG ĐẦU , QUÝ ĐỨNG CUỐI LÀ 1 GIÁP Áp dụng tuổi sinh thuộc Giáp nào Thí dụ người sinh tuổi Đinh Hợi Nạp âm ngược hàng can Đinh Bính Ất Giáp. Bấm Đinh tại cung Hợi tức là tuổi sinh. Bính tại cung Tuất. Ất tại cung Dậu Giáp tại cung Thân, tuổi sinh thuộc Giáp Thân. An sao Tuần tại Ngọ Mùi. 10 TUỔI THUỘC GIÁP NGỌ Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất. Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão. Áp dụng tìm tuổI thuộc giáp nào. Thí dụ NgườI sinh tuổI Mậu Tuất. Nạp âm ngược và bấm ngược hàng can Mậu Đinh Bính Ất Giáp. 1 Bấm Mậu vào cung Tuất. 3 Bấm Bính vào cung Thân Như vậy tuổI sinh thuộc con nhà Giáp Ngọ. An sao tuần vào cung Thìn Tỵ. 10 TUỔI THUỘC GIÁP THÌN Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân. Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu. Áp dụng tìm tuổI thuộc giáp nào. Thí dụ NgườI sinh tuổI Đinh Mùi. Nạp âm ngược hàng can áp dụng cho tất cả các tuổi. 1Bấm Đinh vào cung Mùi. 2Bấm Bính vào cung Ngọ 3Bấm Ất vào cung Tỵ 4Bấm Giáp vào cung Thìn Như vậy tuổI sinh Đinh Mùi thuộc Giáp Thìn. An sao tuần tại cung Dần Mão. 10 TUỔI THUỘC GIÁP DẦN Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ. Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi. Áp dụng tìm tuổI thuộc giáp nào. Thí dụ NgườI sinh tuổI Quý Hợi. Nạp âm ngược Quý Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh Bính Ất Giáp. 1 Bấm Quý vào HợI 2 Bấm Nhâm vào cung Tuất. 3 Bấm Tân vào cung Dậu 4 Bấm Canh vào cung Thân. 5 Bấm Kỷ vào cung Mùi 6 Bấm Mậu vào cung Ngọ . 7 Bấm Đinh vào cung Tỵ 8 Bấm Bính vào cung Thìn . 9 Bấm Ất vào cung Mão 10Bấm Giáp vào cung Dần. Như vậy tuổI sinh Quý HợI thuộc con nhà Giáp Dần. An sao tuần vào cung Tý Sửu. Tam Nguyên TUẦN - Tuần trung không vong an theo tuổi. Khởi từ tuần Giáp tý cứ được 10 năm thì lại thấy lặp lại, thừa ra can Giáp ất. Chỗ đó an Tuần. Thực ra chính là sự lệch pha giữa 12 chi và 10 can. Chi thuộc "địa", Can thuộc "thiên" cho nên tuần là chỗ thiên không gặp địa, giống như quẻ bĩ, khí nóng - dương thì bốc lên cao, mà khí lạnh- âm thì hạ xuống thấp nên không gặp nhau. Chữ "trung" trong tên Tuần trung phải chăng là "không trung", tức là vì trời không gặp đất nên ở khoảng không trung không có gì cả. là nói về một Tuần {đơn vị} có 10 ngày và cũng là muốn nói đến chỉ có 10 Thiên can mà lại có đến 12 Địa chi, thành ra sẽ có 2 ngày địa chi dư ra không nằm trong phạm vi Tuần đó... Thế nên, lục thập hoa giáp có 6 Tuần bắt đầu bằng - Tuần GIÁP TÍ... đến Quý Dậu là xong... dư ra Tuất và Hợi; rồi bắt đầu từ - Tuần GIÁP TUÂT... đến Quý Mùi là xong... dư ra Thân và Dậu; rồi bắt đầu từ - Tuần GIÁP THÂN... đến Quý Tỵ là xong... dư ra Ngọ và Mùi; rồi bắt đầu từ - Tuần GIÁP NGỌ... đến Quý Mão là xong... dư ra Thìn và Tỵ; rồi bắt đầu từ - Tuần GIÁP THÌN... đến Quý Sửu là xong... dư ra Dần và Mão; rồi bắt đầu từ - Tuần GIÁP DẦN... đến Quý Hợi là xong... dư ra Tí và Sửu. Vì không nằm trong tầm quản hạt của Tuần Giáp, nên 2 cung địa chi Mệnh lâm vào hiển thị sự vô kỷ kỷ cương, kỷ luật nói theo kiểu khó nghe, nói dễ nghe thì là dễ thích nghi, hòa nhập vì không bị gò bó bởi cương luật của Tuần Giáp đó nhưng đó cũng có nghĩa là sự bỏ rơi vô trợ nữa. Đã vô trợ mà không dễ thích nghi nữa thì CHẾT thôi! Cho nên, điểm CĂN BẢN cần phải hiểu - đó là cách sống, lối sinh hoạt của người Mệnh bị Tuần không vong. Tuy nhiên, Mệnh bị Tuần không vong có chính tinh đơn thủ, đồng thủ hoặc không có thì lại có những tính chất đặc cách ảnh hưởng của chính tinh chi phối lên trên mình đương số; thế nên Tuần không vong - không mang ý nghĩa là làm mất đi tính chất hoặc biến chất của chính tinh và các sao tọa lạc trong cung ấy MÀ nên quán ra một bức tranh rộng về cách cục này như là HOÀN CẢNH SỐNG, MÔI TRƯỜNG vô trợ muốn làm, tính làm mà hoàn cảnh không thuận tiện cho tính tình, tính toán của cá nhân đó bộc phát thực chất của mình. Ví dụ Mệnh có Thái Dương cư Tỵ ngộ Tuần - đâu có nghĩa là người đó không sáng suốt, tính toán dỡ mà cứ gặp hoàn cảnh vô trợ không thuận tiện cho người đó ra tay, thì người đó kẹt cứng rồi - lấy gì mà tiến thoái. Cũng vậy, Mệnh có Hung Tinh ngộ Tuần thì vì hoàn cảnh không cho phát tác nên mới gọi là Hung Tinh Ngộ Chế chứ bản chất vẫn là "Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác kiến con người mà! TRIỆT - Tính theo cặp thiên can âm dương tương khắc tương hợp Giáp-Kỷ, Ất-Canh, Bính-Tân, Đinh-Nhâm và Mậu-Quý ở những cung Thân-Dậu, Ngọ-Mùi, Thìn-Tỵ, Dần-Mão và Tí-Sửu. Giáp khắc Kỷ nhưng lại là tương hợp vì rằng "nhất âm nhất dương chi vị Đạo" ví như người nam chế phục đặng người nữ làm vợ - chứ như Giáp khắc Mậu là khắc triệt để; thế nên, để ý thì thấy tiếp như sau Canh khắc Ất nhưng lại là tương hợp , Bính khắc Tân nhưng lại là tương hợp , Nhâm khắc Đinh nhưng lại là tương hợp và Mậu khắc Quý nhưng lại là tương hợp. TRIỆT - chữ Hán Việt có thể viết theo bộ Sách bước ngắn nghĩa là "trừ bỏ, phá hủy, sửa làm" hay bộ Thủ tay nghĩa là "bỏ đi, trừ đi, cất đi" VÀ có khi viết với bộ Qua binh khí cái mác, đánh nhau can qua mà phát âm là TIỆT nghĩa là "cắt đứt, đoạn, đánh chặn đường" thì chữ Hán họ viết theo nghĩa TIỆT cho TRIỆT ở trên. "cắt đứt, đoạn, đánh chặn đường" là như thế nào? TRIỆT Triệt lộ không vong an theo can. Khởi từ Giáp. Giáp hợp kỷ hóa Thổ cho nên trong 10 năm đó, can của chi Thìn là Mậu. Từ đó khởi tiếp, Kỷ tỵ, Canh ngọ, Tân mùi thì đến Nhâm thân - Quý Dậu. Triệt của hai người tuổi Giáp và Kỷ an tại Thân Dậu. Tiếp sau đến Ất hợp Canh hóa Kim, thì ta có Nhâm ngọ và Quý mùi. Triệt an ở Ngọ - Mùi. Cứ như thế có 5 cặp Triệt. Bản chất Triệt không gồm có không hư và ảo tưởng giống như Thiên Địa Không. Nhưng nó còn mang đến những chướng ngại đột nhiên, điểm này mới là chủ yếu; gọi bằng Triệt lộ ví như người đang đi đường mà đường bị sụt xuống hoặc có núi lở ngăn chặn Triệt mất đường đi lối an theo Ngũ Tí Độn cho các cặp Thiên can âm dương tương hợp tương khắc trên ví dụ như Giáp-Kỷ Bắt đầu Ngũ Tí Độn là Giáp Tí đếm đến NhâmThân-QuýDậu thì an TRIỆT giữa 2 cung Thân-Dậu. Ất-Canh Bắt đầu Ngũ Tí Độn là Bính Tí đếm đến NhâmNgọ-QuýMùi thì an TRIỆT giữa 2 cung Ngọ-Mùi. Bính-Tân Bắt đầu Ngũ Tí Độn là Mậu Tí đếm đến NhâmThìn-QuýTỵ thì an TRIỆT giữa 2 cung Thìn-Tỵ Đinh-Nhâm Bắt đầu Ngũ Tí Độn là Canh Tí đếm đến NhâmDần-QuýMão thì an TRIỆT giữa 2 cung Dần Mão. Mậu-Quý Bắt đầu Ngũ Tí Độn là Nhâm Tí đếm đến Quý Sửu thì an TRIỆT giữa 2 cung Tí-Sửu. Cách an của TUẦN thì sau Nhâm- Quý dư 2 địa chi cung lấy đó mà an định cho TUẦN - còn cách an của TRIỆT thì lại TRIỆT hai can cuối Nhâm và Quý vì được đúc kết ra cái lý TRỊ THỦY của vua Đại Vũ thành công nên được thấy thần quy rùa thần hiện lên ở sông Lạc trên lưng có một đồ hình nhiều vạch như ta biết đồ hình Lạc Thư ngày nay. Nhưng nên rõ, đây là TRỊ để YÊN chứ không phải TRỊ để ĐOẠT thành ra người có Mệnh Thân bị TRIỆT là để ngăn ngừa, câu thúc những cái quá đà, đam mê thái quá ví như GIỚI vậy! Điều nữa nên biết về tính chất của THỦY là chảy mãi không ngừng, nên khi bị chặn lại thì nó xung kích trở ngược và dậy sóng nên còn được minh họa là lẩm liệt chi thủy. Nên TRỊ để YÊN khỏi vỡ bờ trôi cuốn chứ không ĐOẠT mất tính chất của nó! Tuần sức công phá của tính chất “triệt lộ” không bằng Triệt, bởi vậy Thiên Tướng sợ Triệt gây nguy hại hơn phá hoại đột nhiên từ hoàn cảnh. Tuần lại trễ nải tự nơi mình. Cho nên mới có cái cách Thìn Tuất Phá ngộ Tuần Khoa lại nên hay. Nhờ Tuần khiến tự mình sửa lại cho ngay ngắn bản chất xông xáo bừa bãi của Phá Quân. Sự khác biệt căn bản giữa Tuần với Triệt là thế. Nói tóm lại Tuần công phá nhẹ hơn Triệt chứ không phải Tuần kéo dài sự phá hoại còn Triệt thì sau ba chục tuổi thì hả hơi đi. tham khảo nhiều nguồn Tuần Triệtlà những bộ sao cuối cùng trong khoa tử vi do Tử Vi Cải Mệnh biên đang xem Tuần triệtSao Tuần Và Triệtrất khó hiểu với nhiều người, tuy nhiên qua bài viết dưới đây của chúng tôi, các bạn sẽ có cái nhìn đa chiều và dễ hiểu hơn rất an sao Tuần – TriệtSao Triệt được an dựa theo thiên can của năm sinh, cụ thể như sauThiên CanGiáp–KỷẤt-CanhBính–TânĐinh–NhâmMậu-QuýTriệtThân–DậuNgọ-MùiThìn–TịDần–MãoTý–SửuSao Tuần được an dựa theo năm sinh, cụ thể là dựa theo năm sinh thuộc tuần thủ Giáp nào sinh ra. Từ năm sinh nhẩm ngược trở về năm có thiên can Giáp gần nhất, ta tìm được tuần thủ của năm sinh đó, tiếp theo tra theo bảng sauTuần thủGiáp TýGiáp DầnGiáp ThìnGiáp NgọGiáp ThânGiáp TuấtTuầnTuất-HợiTý-SửuDần-MãoThìn-TịNgọ-MùiThân-DậuNgũ hànhTriệt thuộc thuộc khíTùy tínhTriệtBế tắc, ngăn trở, chướng ngại, chặn đứng, phá trắc trở, dai dẳng, xoay trở bao giờ cũng chậm nghĩa chung của Tuần – TriệtTuần và Triệt là hai sao trong bộ tứ Không bao gồm Địa Không, Thiên Không, Tuần Không và Triệt Không. Tuần có tên gọi đầy đủ là Tuần Trung Không Vong và Triệt là Triệt Lộ Không Vong. Theo ý nghĩa Hán Việt thì Không” có nghĩa như sự hư rỗng, trống không, không có gì cả…”Vong” có nghĩa là là mất, trốn, chết, bị tiêu diệt, đi vắng…Qua đó, với cái tên chung cùng là “Không Vong”, Tuần – Triệt có ý nghĩa như một sự ngăn trở, chặn đứng, trừ bỏ không cho ai ra, không cho ai vào tại nơi nó đóng, một bức tường thành chặn đứng giữa con đường ngăn chặn mọi giao thông đi qua, không cho một kẻ bên ngoài nào động vào…Nếu nơi đó đang phồn thịnh, tốt tươi, nhiều cát tinh chiếm đóng thì quá ư là một điều đáng tiếc, mọi sự tốt đẹp đều bị ngăn trở, hạn chế, không cho được bộc phát ra ngoài…Ngược lại, tại những nơi có sát bại tinh đánh phá, chiếm đóng thì Tuần – Triệt quả là một trại cải tạo hữu ích, một nơi giam giữ, không cho những kẻ lưu manh, gian trá kia được cơ hội gây hại, ảnh hưởng tới những người vô tội xung quanh các cung còn lại. Ngoài ra, đặc tính Tuần – Triệt có tác dụng lên toàn diện, không có biệt lệ, tức là sao này chi phối tất cả các sao đồng cung với chúng, không vị nể một sao nào hay một cung nào. Do đó mà tại một nơi có cả sao tốt lẫn sao xấu thì ảnh hưởng của Tuần – Triệt cũng trở nên nửa xấu nửa tốt, xấu vì giảm chế tác dụng của những cát tinh mà cũng tốt vì ngăn chặn được những cái xấu xuất hiện…Tuần và Triệt có mối quan hệ như anh em ruột thịt, cùng ý nghĩa về sự ngăn cản, trắc trở tại nơi mình đóng nhưng Triệt Không thường thể hiện tính cách như một người anh cả có tính cách mạnh bạo và dữ dội hơn người em là Tuần Không. Nếu như Tuần Không báo hiệu sự khó khăn, ngăn trở, chiếc phanh xe làm tốc độ chậm dần lại thì Triệt Không báo hiệu sự bế tắc, chướng ngại lớn, sự lụi bại nặng nề, là bức tường chắn ngang giữa đường không cho kẻ nào đi qua…Nhưng ngược lại, theo thời gian về lâu về dài thì sức ảnh hưởng của Tuần Không ngày càng trở nên mạnh mẽ và nặng nề hơn, Triệt Không thì chỉ mạnh cho tới khoảng 30 tuổi, tuổi tam thập nhi lập, giai đoạn mà từ đó con người có thể tự lập, không còn chịu ảnh hưởng nặng của gia đình, có thể vùng vẫy, tự do, tha hồ làm những điều mà trước kia tuổi trẻ chưa thể làm được…Ở một khía cạnh khác, mối quan hệ khăng khít giữa Tuần và Triệt còn được thể hiện là khi vào vận có Tuần Không thì Triệt Không sẽ được mở, tạm thời loại bỏ các tác dụng của Triệt Không trong thời gian của vận đó và ngược lại khi vào vận Triệt sẽ mở Tuần. Khi đó nơi được mở khóa có thể tha hồ tung tăng, bay nhảy mặc sức, không lo bị cản trở như xưa, nhưng nếu nơi đó hội quá nhiều sát bại tinh thì phải thật dè chừng vì có thể tai họa cũng sắp tới gần…Tuần – Triệt cũng ưa khi tọa thủ tại những cung vô chính diệu, có tác dụng như một chiếc mỏ neo giúp con thuyền không có người lái trở nên vững chắc hơn, bớt cảm giác chông chênh, bồng bềnh trên sông, trên biển… Một cung vô chính diệu là một nơi vô chủ, không có chính tinh tọa thủ, thường hay bị lung lay, xoay chuyển bởi những tác nhân bên ngoài, qua đó Tuần – Triệt biến thành một bức tường vững chắc, kiên cố, luôn bảo vệ nơi chúng đóng khỏi những tác nhân bên ngoài xung phá, tác động, bền bỉ với thời gian…Nếu vô chính diệu mà được Tứ Không Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không thì rất đẹp, được Tam Không thì đẹp, đươc Nhị Không thì tầm thường, còn chỉ Nhất Không thì phú Tử Vi có câu“Triệt đáo kim cung, Tuần lâm hỏa địa” có ý nghĩa ám chỉ sao Triệt Không có vị trí đắc địa tại hai cung gồm Thân – Dậu ứng với hai tuổi can Giáp – Kỷ và sao Tuần Không đắc địa tại hai cung Tị – Ngọ ứng với tuần thủ Giáp Thân và Giáp Ngọ. Tại vị trí đắc địa này, Tuần – Triệt thường chỉ ngăn trở, chặn đứng những sát bại tinh hoặc những sao có tính chất gây hại bên trong không cho bộc lộ ra ngoài, ngược lại với các cát tinh thì được tiếp tục phát huy mà không hề động chạm tới. Chính vì vậy mà người ta thường rất ưa thích khi Tuần – Triệt đứng tại đúng vị trí đắc địa của nó, thật không gì tốt lại, có thể thấy hai sao Tuần – Triệt là hai trung tinh chuyên về sự ngăn trở, giảm chế, ngăn cản mọi thứ tại nơi nó đóng, chính vì vậy mà chúng thường ưa khi đóng tại những nơi nào có nhiều sát bại tinh, những nơi có nguy cơ phát ra tai họa, bệnh tật như cung Tật Ách, đi cùng cát tinh thì cũng giảm chế đi nhiều tác dụng. Do đó mà có thể đánh giá Tuần – Triệt có tính chất nửa tốt nửa xấu, ta phải tùy thuộc vào vị trí cung tọa thủ và các sao đi kèm thì mới có thể xét đoán được thật rõ ràng và chính xác…Ý nghĩa sao Tuần Triệt ở cung Mệnh“Tuần Triệt niên đầu, thiếu niên tân khổ”Câu phú trên ám chỉ những ai có Tuần – Triệt thủ cung Mệnh thì tuổi trẻ thường dễ hay phải lận đận, nghèo, cực, bôn ba, đau ốm, công việc học tập gặp trắc trở, nhất là khi Tuần Triệt đi theo hai đại vận đầu đời của đương số. Tuy nhiên trường hợp này vẫn có ngoại lệ khi cung Mệnh đắc Tuần Triệt hợp cách, cung Phúc, Phụ Mẫu, Huỵnh Đệ đẹp thì cũng không sao – Triệt thủ cung Mệnh là người thường ít nói, lầm lỳ, không thích bộc lộ ra ngoài, cất giấu mọi thứ bên trong. Bản thân tuổi trẻ hay gặp nhiều trắc trở, ngăn cản nên dễ trở nên trầm tính, không muốn chia sẻ ra bên ngoài là vì như – Triệt thủ cung Mệnh có nhiều sát bại tinh đánh chiếm thì trở thành người nóng tính, nhiều mưu mô nhưng kiểm soát được mình, không để cho những tật xấu, thủ đoạn trong mình được bộc lộ ra, thành một người rất giỏi, khó ai có thể qua mắt được – Triệt thủ cung Mệnh và cung Phụ Mẫu thì có thể mồ côi sớm hay sớm ra đời để lập sinh bất phùng thời, tuổi trẻ dễ gặp những tai họa bất ngờ ập xuống, gặp nhiều cảnh trớ trêu, càng lớn lên khi tác dụng của Triệt giảm dần thì mọi thứ sẽ trở nên tốt hơn, còn Tuần thì càng ngày cản trở càng mạnh mẽ hơn, đeo bám đến suốt cuộc nhân thường ưa Triệt hơn Tuần, nữ nhân thường ưa Tuần hơn Triệt. Nam gặp Tuần thì càng về già càng gặp nhiều gian truân, cản trở khó ngóc đầu lên được, gặp Triệt thì chỉ khó khăn tuổi trẻ, tạo nên nhiều ý chí quyết tâm thay vô chính diệu có đắc Tứ hay Tam Không thì làm nên danh phận nhưng không bền, tuổi niên thiếu vất Vi, Thiên Tướng gặp Tuần – Triệt thì kém, là người dễ hay gặp tai nạn, ốm đau…người dễ nhụt trí, hay thay đổi, công danh không cao, dễ có nhiều lần bị mất chức, đuổi việc…Sao Tham Lang gặp Triệt thì giảm nghĩa Tuần Triệt ở các cung khácÝ nghĩa sao Triệt Không ở cung Phụ MẫuTuần – Triệt thủ cung Phụ Mẫu thì mẹ cha mất sớm, nhất là nếu Nhật, Nguyệt lạc hãm hay bị Không Kiếp chiếu. Cần cân nhắc với hai sao Nhật, Nguyệt và cung Phụ Mẫu có Tuần, – Triệt thủ cung Phụ Mẫu thì cha mẹ vất vả, hay gặp cản trở, chướng ngại trong cuộc đời. Chỉ tốt khi đu cùng chính tinh hãm địa hoặc cung vô chính là người âm dương thuận lý thì tuổi trẻ thường hay gặp khó khăn, cản trở trên con đường học tập, công nghĩa sao Triệt Không ở cung Phúc ĐứcCung Phúc Đức không ưa Tuần – Triệt tọa thủ, chỉ tốt khi có nhiều sát tinh, chính tinh hãm địa hoặc vô chính phúc đức bị trục trặc trên phương diện nào Dương thỉ dòng họ thất tự, phải lập con – Triệt cư cung Phúc thì đương số khó được nhận những may mắn, phúc phần mà tổ tiên để bớt lương duyên, may mắn, dễ muộn vợ muộn mả tổ tiên thường kém, đặt tại vị trí không đẹp, hay bị gì đó vây quanh hoặc chắn ngang phía trước đóng cung Phúc thì tuổi trẻ không được nhiều may mắn, phải tự tôn bồi phúc đức thì càng về già càng được hưởng những phước đức ý. Tuần thì ngược lại, càng lớn càng kém may mắn, ít được tổ tiên phù nghĩa sao Triệt Không ở cung Điền TrạchTuần – Triệt đóng cung Điền thì giảm chế hoặc không có tài sản, hoặc chỉ có trong một giai đoạn nào đó, tài sản có nhưng không đứng tên làm ra của nhưng phải chật cư Phúc – Điền thì không được hưởng di sản tổ phụ để lại, cư Điền – Quan thì tuổi trẻ vất vả, khó tích lũy được tiền bạc của cư Phúc – Điền thì nhà cửa thường dễ của tổ tiên để lại, khó bán được, chỉ sử dụng được để ở và thờ cúng tổ tiên. Cư Điền – Quan thì công việc có thể tích lũy được của cải, tài sản nhưng hay bị hao hụt, hao mất đi một phần, càng về già càng khó tích cư Điền thì nhà thường ở ngã ba, ngã tư đường, Tuần cư Điền thì nhà thường dễ ở cuối ngõ, cuối hành lang chung cư, nhà được vây quanh bởi tường rào, hàng xóm xung quanh, khó tiếp nghĩa sao Triệt Không ở cung Quan LộcTuần – Triệt cư cung Quan thì công danh lận đận, khó nhọc mới làm phải chịu vất vả trong một thời gian, công danh thường khó Tướng, Triệt, Tuần thì dễ có thể bị bãi chức, hay bị tai nạn trong công cư cung Quan thì công việc không thuận lợi nhưng cũng khó bỏ, để thì buồn mà cắt thì cư cung Quan – Nô thì trong công việc không tạo ra được mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, cấp dưới, khó phát cư cung Quan – Nô thì công việc hay liên quan, dính dáng nhiều tới bạn bè đồng nghiệp, đôi khi vì họ mà công danh khó có thể lên cao, hay gặp sự cố, cản nghĩa sao Triệt Không ở cung Nô BộcTuần – Triệt thủ cung Nô có nghĩa là tôi tớ thay đổi, ra vào luôn, không ai ở lâu cư Nô – Di thì ra ngoài ít bạn ít bè, không hay giao tiếp, quan hệ với ai, lúc có việc cần thì không có ai bên cư Nô thì ra ngoài ít bạn, chỉ chơi thân với một số người thôi, càng về già càng ít nghĩa sao Triệt Không ở cung Thiên DiTuần – Triệt cư cung Di thì là người ít ra ngoài, ra ngoài ít quan hệ, giao tiếp, đặc biệt là khi có Tuần – Triệt tại 2 cung Nô – – Triệt tại 2 cung Di – Tật thì lại tốt, người ra ngoài cẩn trọng nên ít dính tai vạ, bệnh ra ngoài hay đi xa dễ hay gặp vấn đề, gặp chuyện để rồi lại phải quay về đi làm ăn xa thường không hay được thuận lợn, hay gặp cản trở, tai vạ ở bên nghĩa sao Triệt Không ở cung Tật ÁchRất cần có Tuần – Triệt tại cung Tật Ách vì nhờ hai sao này mà bệnh, tật và họa sẽ tiêu tán hay giảm thiểu đi rất nhiều, sức khỏe và may mắn sẽ được bảo đảm nhiều cư cung Tật thì đánh tan bệnh tật, tai họa cư cung Tật thì ngăn cản, giữ nguyên không cho bệnh tật hay tai họa phát triển, tái phát, do vậy mà cung Tật vẫn thường ưa Triệt nghĩa sao Triệt Không ở cung Tài BạchTuần – Triệt cư cung Tài thì làm cản trờ khả năng kiếm tiền, khả năng thu nhập của đương không có tài sản, hoặc chỉ có trong một giai đoạn nào đó, làm ra của nhưng phải chật – Triệt cư Tài – Tật thì tuy đồng tiền kiếm ra chậm, ít nhưng hạn chế được khả năng dính tới tai họa, bệnh tật đi nghĩa sao Triệt Không ở cung Tử TứcTuần – Triệt cư cung Tử thì sát con, nhất là con đầu sinh con đầu lòng khó khăn, khó thủ cung Tử Tức thì thường chậm trễ có con, gặp nhiều vấn đề ngăn trở. Triệt thủ cung Tử thì thường dễ xảy thai, hao hụt con cái hay gặp trắc trở sau này, ở xa cha cư cung Tử – Phối thì chậm vợ chậm chồng nhưng cưới thường dễ được cả trâu lẫn nghĩa sao Triệt Không ở cung Phu ThêTuần – Triệt thủ cung Phu Thê nói lên sự trắc trở hôn nhân, nhất là sự thất bại của mối tình người khác làng, khác tỉnh mới tốt, nhưng nhân duyên phải gặp khó gặp Mã Vợ chồng bỏ nhau rất dễ dàng, vợ chồng ôm con bỏ về cư cung Phối thì dễ có lần tưởng sắp cưới rồi lại nghĩa sao Triệt Không ở cung Huynh ĐệTuần – Triệt cư cung Huynh Đệ thì anh chị em xung khắc hoặc ít anh chị thì dễ có anh cả, chị cả mất nghĩa sao Triệt Không đi cùng các sao khácTuần – Triệt đi cùng Thiên Tướng, Tướng Quân, Quốc Ấn thì công danh không cao, treo cao thì ngã đau, dễ bị sa thải, mất chức…Triệt đi cùng Thiên Tướng, Tướng Quân, Tử Vi thì dễ dính tai họa nguy hiểm tới tính đi cùng Tham Lang thì giảm thọTuần – Triệt đi cùng Cự Môn Tý Ngọ thành cách thạch trung ẩn ngọc, trở thành con người vô cùng thông minh và sắc sảo, giảm chế đi cái thị phi, nói nhiều của Cự – Triệt đi với Thái Âm Thái Dương hãm địa thì tốt, làm tăng sáng cho Âm – Triệt đi cùng Thiên Phủ thì thành cách Phủ phùng Không, chủ về cái kho rỗng, khó tích lũy được tài sản, của nghĩa sao Triệt Không đi vào các hạnHạn vào Triệt thì mở Tuần, vào Tuần thì mở gặp sao sáng sủa thì hạn lại trở nên mờ ám, mưu sự trắc trở, thất gặp sao xấu xa thì hạn được trở nên sáng sủa, dù có gặp trắc trở ban lại, Tuần Triệt là hai sao hết sức quan trọng, chi phối các cung, các sao, có thể biến tốt thành tương đối xấu, biến xấu thành tương đối tốt. Hiệu lực nghịch đảo đó có thể làm lạc hướng luận đoán nếu sự cân nhắc không tinh vi. Tuần-Triệt luôn phức tạp và ẩn chứa bí ẩn của nó! Vậy chúng ta phải luận thế nào khi gặp tuần triệt??? Dưới đây là một bài viết sưu tầm mà mình đã đọc qua. Cách luận tương đối từ cách suy luận ra từ hiệu lực của tuần triệt ảnh hưởng đến các sao và ví Tuần Triệt mang sự thay đổi/bất thường. Thời thế loạn lạc có thể tạo anh hùng cũng có thể sinh cướp trộm. Chứ không có một quy tắc nào nhất định. Đây cũng chỉ mang tính chất tham khảo. Chúc các bạn vui!———-******———–HỎI Ông bảo ông đã nghiên cứu Tử Vi nhiều năm, vậy ông đã tìm ra một phương pháp khoa học để luận Tuần Triệt hay chưa? Chia sẻ được chăng?ĐÁP Như tôi đã trình bày ngay khi vào đề từ mấy bài trước là về Tuần Triệt hiện tôi có nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời. Thế nhưng, việc xem số không thể chờ đợi đến khi mọi câu hỏi đều được trả lời thỏa đáng, nên tôi phải buộc lòng dựa vào kinh nghiệm và tư duy cá nhân suy diễn thêm để trám vào những lỗ hổng của cái lý khoa học. Hiển nhiên những điều mà tôi gọi là suy diễn chưa thỏa đòi hỏi của lô gích theo ý tôi mong muốn. Chúng có thể đúng mà cũng có thể sai, hy vọng rồi thời gian sẽ sớm trả đang xem Tuần triệt là gìBiết rằng khoa học là một diễn trình tiệm tiến, tôi mong mỏi những vị khác sẽ sửa sai hoặc đắp bồi thêm vào những suy luận của tôi để một ngày nào đó ở tương lai Tuần Triệt trở thành kiến thức thông dụng thay vì vẫn là một bí mật của Tử Vi như hiện việc chia sẻ, tôi chẳng có gì để mà dấu nghề. Hy vọng của tôi là sau khi đọc sách này độc giả sẽ biết tất cả những gì tôi biết, tức là cộng với những kiến thức có sẵn thì các độc giả chăm đọc sẽ hiểu biết khoa Tử Vi hơn tôi và trong số đó biết đâu có người có phát kiến mới, lại viết sách cho tôi có dịp học hỏi! Phải như thế mới mong Tử Vi mãi mãi tiến bộ như các ngành khoa học Khi xem Tuần Triệt ông xét yếu tố nào đầu tiên?Đầu tiên tôi xem Tuần Triệt đóng ở cung nào. Tuần Triệt có tính “bất thường” nên tôi dựa một phần vào sách cổ mà suy diễn ra rằng chúng án cung nào khiến cá tính của cung đó có tính “bất thường; ta có thể tùy cá tính của cung mà suy ra phần nào ảnh hưởng bất thường đó.“Cá tính” đây ám chỉ, mệnh, phụ mẫu, phúc đức Như Tuần Triệt cư mệnh thì chính bản thân ta có sự bất thường. Cư các cung người còn lại, gồm “huynh đệ, phụ mẫu, phúc đức, nô bộc, phu thê, tử tức” luận tương tự, tức là đều “bất thường” cả. Chẳng hạn như Tuần Triệt cư huynh đệ thì hoặc anh em của ta có người bất thường, hoặc liên hệ giữa ta với anh em của ta có sự bất thường; Tuần Triệt cư phụ mẫu thì cha mẹ ta có sự bất thường, hoặc liên hệ giữa ta và cha mẹ ta có sự bất thường Còn lại các cung điền quan di tật tài cũng cứ dùng lý “bất thường” mà thường đây không nhất thiết là có nghĩa xấu, mà chỉ có nghĩa là có một hoặc nhiều sự phát triển hoặc thiếu phát triển lạ lùng nào đó khác với thường tình. Như thường tình của đời hiện đại là một vợ một chồng, có ly dị cũng một hai lần mà thôi; nên người không bao giờ lập gia đình hoặc người thay vợ đổi chồng như cơm bữa đều có thể ứng với Tuần Triệt án ở phu thê. Lại như người rất ít bệnh hoặc bệnh tật triền miên đều có thể ứng với Tuần hoặc Triệt án ở cung tật ách. Chú ý Cách xem này là kết quả suy diễn của tôi, có khác với sách vở. Nếu độc giả cho rằng có thể đúng cũng đừng vội vàng áp dụng mà hãy chứng nghiệm trước đã.Còn chi tiết của sự bất thường là gì thì thực hành thường dễ hơn giải thích. Luật chung là phải dựa vào mệnh thân phúc để có một hình ảnh khái quát về lá số trước đã, khi xem vào chi tiết thì sự bất thường sẽ tự lộ hạn cũng thế. Tôi cho rằng đại hạn hễ có Tuần Triệt là có sự bất thường cái đã, mọi chuyện khác tính nghĩa sao Tuần Triệt trong tử viHỎI Nghĩa là mặc dù theo ông tuổi già ảnh hưởng của Triệt không đáng kể nữa, nếu vào đại hạn Triệt vẫn có sự “bất thường”?ĐÁP Chính thế! Ấy bởi vì tôi suy diễn thế này Tuần Triệt là hai loại ảnh hưởng trong cung như hai loại động đất có tác dụng tương tự dù sự hiển thị và cường độ khác nhau. Tuần thì tương đối dễ hiểu rồi, vì ta đều có thể công nhận là nó có tác dụng trọn đời. Về Triệt, hãy thử tưởng tượng một trận động đất có cường độ trên 7, khi hết động đất rồi ta có dám nói là hoàn cảnh trở lại bình thường hay không? Tôi nghĩ là không. Vào đại hạn có Triệt ở tuổi già cũng như đến một nơi đã từng trải qua một trận động đất kinh khủng, cảnh tàn phá chết chóc tất nhiên khiến người ta phải chấn động. Đó là chưa kể trong cảnh hỗn mang như vậy mọi trật tự và giá trị đều bị đảo lộn, ai dám chắc là người mới tới không bị nó ảnh hưởng?Với người quyền biến cảnh hỗn mang có thể là tai họa rủi ro mà cũng có thể là cơ hội ngàn vàng, họa phúc khó lường. Nhưng với người tuổi già sức yếu tôi e trong tám chín mươi phần trăm trường hợp gặp cảnh hỗn mang chỉ chuốc lấy họa mà thôi. Bởi vậy theo cách xem của tôi người già đến hạn Tuần Triệt phải hết sức cẩn mật đề phòng. Nhất là mệnh hạn gặp cảnh “Triệt Tuần tháo gỡ”, bởi “tháo gỡ” đây cũng có thể là tháo gỡ khỏi nợ đời, cho hồn phách tự do chu du về nơi tiên người chưa cao tuổi mà công danh lận đận, cơm áo ngược xuôi, theo tôi đừng vội thấy đại hạn đến Tuần Triệt mà sợ hãi như các sách cổ đã ghi. Nhiều khi đây là thời điểm đổi thay,là khúc quanh dẫn đến sự huy hoàng ở tương lai nhiên đây chỉ là yếu tố thêm vào mà thôi. Vận không thể quá mệnh, nên phải xem cách cục nguyên thủy ra sao, lại phải phối hợp với cách cục của cung đại hạn rồi hãy luận hạn Tuần Triệt là tốt hay Rốt ráo thì vấn đề vẫn là xác định cung có Tuần Triệt tốt hay xấu. Đây là điểm rất lờ mờ của Tử Vi, các sách không nói rõ. Ông có phương pháp suy luận nào rõ nét chăng?ĐÁP Cách xem Tuần Triệt của tôi dựa nhiều vào suy diễn cá nhân nên hai chữ “phương pháp” không dám đã trình bày nhiều lần, luật chung mà tôi áp dụng cho cung bị chính Tuần án ngữ là uy lực của các sao bị giảm 50%, chính Triệt 80-90% Phụ Tuần phụ Triệt tôi sẽ bàn sau; tạm thời khi tôi nói Tuần tôi ám chỉ “chính Tuần”, Triệt ám chỉ “chính Triệt”.Tuần làm giảm 50%, nghĩa là tính chất tốt cũng như xấu của sao bị giảm nhưng vẫn còn phát huy được một phần nào. Tác dụng của Tuần lâu dài nên lý tính này không đổi trừ trường hợp vào hạn Triệt như đã trình bày ở trên. Triệt làm giảm 80-90%, nghĩa là tính chất của sao bị đè nén không phát huy được, nhưng tác dụng của Triệt ngắn hạn nên sự đè nén này không có tính vĩnh viễn. Những điều này đã trình bày nhiều lần trong các bài trước, ở đây tôi chỉ nhắc lại để khỏi mất công lục tài liệu thêm Game Sút Phạt Đền 31 - Game Sút Phạt PenaltyVì ảnh hưởng các sao bị giảm thiểu, Tuần và Triệt khiến cho tính chất của mọi cách cục đều bị thay đổi; nhưng không nhất thiết đảo lộn tốt thành xấu, xấu thành tốt… Vậy làm sao phân biệt xấu tốt? Xin thưa tôi chưa có câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này trong mọi trường hợp. Tôi chỉ xin đề nghị vài điều, và ghi rõ độ khả tín của các điều này nhẹ ngũ hành Tôi cho rằng ta không nên dựa vào lý ngũ hành sinh khắc để luận tác dụng của Tuần Triệt trên các sao, bởi sẽ có khi đúng khi đề nghị này khả tín, vì như trình bày trong bài trước, lý ngũ hành của các sao không phải là kết quả của một bài toán nhất quán mà mỗi nhóm sao được suy bằng một hệ thống lý luận khác nhau, nên không thể nhất luật áp dụng lý sinh khắc với Tuần Triệt mà suy ra tốt xấu cho mọi sao thiết nghĩ luật sinh khắc của ngũ hành không cần thiết, vì ta đã biết tác dụng tổng quát của Tuần Triệt trên các sao như tôi đã trình bày nhiều lần. Trừ một vài ngoại lệ tôi sẽ bàn sau. định hoàn cảnh của chính tinh ngộ TriệtXem Tuần Triệt như hai loại động đất xảy ra ở trong cung, tôi phân biệt theo ảnh hưởng ra hai loại chính tinh Năm sao Âm Dương Tử Phủ Tướng một nhóm, nhóm kia gồm 9 chính tinh còn Âm Dương và Tử Phủ Tướng trước. Trong TVHTKH1 tôi gọi Tử Phủ Âm Dương là 4 đế tinh. Cách gọi này đã gây nhiều phản kháng; thực ra điểm chính tôi muốn nói là Tử Phủ Âm Dương có vai trò lãnh đạo nên khác với 10 sao còn lại. Điểm này hết sức quan trọng, hiểu nó rồi thì sẽ giải thích được tại sao Tử Phủ Âm Dương có những cách cục khác hẳn các sao sao Thiên Tướng có một vai trò rất lạ lùng trong Tử Vi. Như đã trình bày trong TVHTKH1, theo lý hình thành thì Thiên Tướng là sao yếu đuối nhất trong nhóm động tức nhóm 8 sao Tử Phủ Vũ Tướng Sát Phá Liêm Tham, nhưng vì lý vận hành mà Tướng được vĩnh viễn tam hợp với Phủ, tạo thành cặp quý tinh Phủ Tướng. Có thể nói Tướng là một loại “nửa ông nửa thằng” theo ý nghĩa tốt, chẳng thể kể là thuộc giai tầng lãnh đạo, nhưng lại được hưởng nhiều quy chế đặc biệt dành riêng cho cấp lãnh Triệt như hai loại động đất. Tác dụng của chúng là giảm thiểu tín hiệu của các sao, nên các nhân vật lãnh đạo đang ở ngôi cao tốt tất bị sụt xuống thấp bớt tốt, các nhân vật đang ở chức quá thấp so với khả năng xấu có thể được trung ương cứu xét để thăng lên chức gần với khả năng hơn bớt xấu. Thế nhưng từ quan điểm chủ quan thông thường của giới lãnh đạo thì từ ngôi cao sụt xuống không phải là bớt tốt mà là xấu, tương tự đang ở chức quá thấp mà được cứu xét là có hy vọng lên chức gần hơn với khả năng của mình, nên không phải bớt xấu mà là tốt. Dùng lý tương ứng ta suy raTử Phủ Tướng không có hãm địa nên gặp Tuần Triệt ví như ở ngôi cao sụt xuống ngôi thấp, gặp Tuần Triệt là hung hiểm riêng Mão Dậu là hai cung yếu nhất của ba sao này thì lại có thể hưởng phúc của kẻ tu hành. Âm Dương miếu vượng gặp Tuần Triệt ví như lãnh chúa ở ngôi cao sụt xuống ngôi thấp, hiểu lẽ tiến thủ thì vẫn hơn người; thế nhưng hiểu lẽ tiến thủ là ngoại lệ, nên đa số trường hợp là Dương hãm địa gặp Tuần Triệt ví như nhân tài đang ở vị trí quá thấp so với tài nghệ của mình bỗng được nâng lên một vị trí cao hơn mặc dù vẫn là thấp so với tài nghệ. Rõ ràng là một tiến bộ, nhưng công tâm mà xét thì vẫn là chưa đạt hết tiềm năng. Bởi vậy Âm Dương hãm địa gặp Tuần Triệt là có cơ hội tốt để thành công, nhưng khó thành công lớn hợp Âm Dương cùng cung ở Sửu Mùi gọi là “đắc địa” vì lý do đặc biệt xin xem phần hỏi chính tinh còn lại tôi phân ra các sao vũ dũng, thư sinh, và làng nhàng. Vũ dũng có Liêm Vũ Sát Phá Tham, thư sinh có Cơ Lương, làng nhàng có Đồng dũng gặp Tuần Triệt lý tính giảm đi, nhưng vẫn còn tàn tích, không hết hẳn được. Như Phá Quân chủ phá hoại, gặp Tuần Triệt khuynh hướng phá hoại giảm đi, có thể thành ra thích sửa đổi. Như Vũ Phá cư Hợi là hãm địa, ngộ chính Triệt ở đây không có nghĩa trở thành tốt, mà chỉ là đỡ xấu đi thôi. Lại như Tham Lang cư Tý gặp Kình là cách “phiếm thủy đào hoa”, thường lông bông lãng đãng thích trăng hoa; nếu sinh trong tuần từ Giáp Dần đến Quý Hợi tất ngộ Tuần, có thể nhờ vậy mà không tỏ ra lông bông lãng đãng hoặc trăng hoa, nhưng khuynh hướng này vẫn tồn tại ở mức thấp và phải được thể hiện ra ở đâu đó chẳng hạn là văn sĩ hoặc diễn viên, sở trường diễn tả các vai lãng tử.Thư sinh gặp Tuần Triệt thì thay đổi hoàn cảnh. Tốt thành xấu, xấu đỡ hơn, chưa tốt hẳn dễ thành ra tốt. Hai sao Cơ Lương thỏa tính “thư sinh” nên miếu vượng ngộ Tuần Triệt ví như học trò giỏi giang nhưng chẳng may thi rớt nên giảm hẳn nhuệ khí, biến thành ra xấu. Cơ Lương hãm gặp Tuần Triệt như học trò nghèo được nhờ hoàn cảnh đổi thay mà tìm được việc dạy kèm trẻ kiếm tiền dằn túi, hoặc như học trò dở nhưng may nhờ thang điểm đổi mà đậu vớt kỳ thi cuối khóa; tốt đấy, nhưng chẳng thể nói là huy hoàng. Riêng Cơ Tý Ngọ và Lương cư Sửu cách “nhật nguyệt tịnh minh” là các trường hợp thiên về tốt nhưng không rõ nét lắm thì ví như người học trò tự xem mình quá thấp, cứ làm những việc lận cận đâu đâu; gặp Tuần Triệt ví như may nhờ gặp biến cố mà vỡ lẽ ra. Vỡ lẽ ra rồi thì chuyên tâm học tập thành tài, nên dễ tốt thêm Từ Sufficient Là Gì - Nghĩa Của Từ SufficientSao làng nhàng thì gặp Tuần Triệt chẳng hại gì, lại thường có lợi. Bởi thế chẳng sách nào nói Đồng sợ Triệt Tuần, các sách lại hay nói đến cách to là “thạch trung ẩn ngọc”, tức Cự Môn Tý Ngọ đắc Triệt Tuần. Có 3 cách hóa giải Tuần Triệt dựa trên nguyên lý hình thành của nó. a. Động cung xung chiếu. Sao tốt gặp Tuần Triệt là đáng được thuận lợi, tự do mà lại bị kìm hãm, vô hiệu hóa, nên xấu. Vậy dùng cách động cung xung chiếu, đó là phá cửa nhà tù mà ra. Dùng cây gỗ lớn tông thẳng vào cửa mà phá xích. Dùng quân tinh nhuệ, lính đánh thuê tập kích phá tung tường bao, giải thoát tù nhân, thả hổ về rừng. Với Tuần là kích tung lên cho mất cái trì trệ, chậm chạp. Đó là làm con đường xuyên qua vùng đất lạc hậu để nó phát triển đi lên. Con đường càng đâm thẳng vào vùng đất đó, càng đi xuyên qua vùng đất đó càng lợi, nên động cung xung chiếu là đắc cách. b. Chủ động tạo sự ngăn cách. Cách này tạo ra cái giống Tuần Triệt để giảm tác dụng của nó. Vì Tuần Triệt là vùng đất có qui chế đặc biệt, là chỗ xa xôi, là nơi ngăn cách, nên đi xa là một cách tạo hiệu ứng tương tự. Đi đến vùng đất lạ, đi xa hẳn nơi sinh là cách giải rất tốt. Hoặc chủ động tạo ra sự riêng biệt, tự tách riêng ra. Tự áp đặt cho mình qui chế đặc biệt, không cần cái ngoại lực nào nữa. Đó là khi ở cùng nhà mà tách hộ ăn riêng, làm cùng chỗ mà chia tách riêng các bộ phận. Để Tuần Triệt ứng vào ngăn cách, chia lìa. c. Dùng sao Tử vi Đây là một cách giải hết sức hữu hiệu, rất đặc biệt. Vua có thể ra lệnh biến vùng đất xa xôi nào đó thành thị xã, thành phố, xóa cái lạc hậu chậm tiến đi. Vua có thể can thiệp để ân xá, giảm án cho tù nhân nên Tử vi có thể giải cái hung của Tuần Triệt. Đây là một kết quả cực kỳ quan trọng trong ứng dụng. Tử vi ở đâu, nếu dụng được cung đó thì sẽ làm Tuần Triệt nhẹ đi nhiều. Hạn đến Tử vi sẽ xảy ra hiệu ứng bung Tuần Triệt ở cung bị cùm khóa, như vua lên ngôi đại xá thiên hạ, nhà tù mở cửa giải thoát. Mệnh Thân có Tử vi thì Tuần Triệt tại đâu cũng nhẹ đi nhiều rồi, tức tự mình có quyền tha giết, bắt bớ, nên không sợ Tuần Triệt. Hạn đến Mệnh hoặc xung Mệnh thì sự bung vỡ rất rõ. Mệnh Thân bị Tuần Triệt, trong các cung xung chiếu, tam hợp chiếu có Tử vi mà dụng được cung đó là coi như đã được giải nhiều rồi. Điều này rất ứng nghiệm, có giá trị cao trong giải đoán. Tử vi là vua nên dù bị Tuần Triệt đóng tại bản cung vẫn có tác dụng. Thường chỉ ứng là có giám sát chặt chẽ, có xa cách như di chuyển, thay đổi, không bị trì trệ quá đáng, không thể bị vô hiệu hóa. Tử vi nắm quyền tha giết, Tuần Triệt phải ở trong tay nó. Động cung có Tử vi có thể làm nhẹ Tuần Triệt. Có gia đình bố mẹ già con cái đùn đẩy không ai muốn phục vụ. Một người con dù vai thấp nhưng đón về nuôi. Người đó Mệnh bị Triệt, có Tử vi ở cung Phụ mẫu, vậy là đã vô tình rước vua vào nhà để giải Triệt. Cuộc sống từ đó liên tục phát tài, có may phúc rất khó hiểu. Một ví dụ khác là như nàng Kiều bị cùm khóa nơi đất thấp, gặp Từ Hải là phá tung xiềng xích, trở nên khác hẳn. Thuyền quyên ví biết anh hùng Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi! Câu trên thực ra là của Sở Khanh hót để khoe khoang với Kiều, nhưng nó lại ứng việc Từ Hải là Tử vi dễ dàng giải thoát Kiều khỏi lầu xanh. Khi Từ Hải chết rồi thì Kiều rơi trở lại đất thấp…

cách an sao tuần triệt