các phương pháp phê bình văn học

Từ năm 2021 đến nay, đã cắt giảm, đơn giản hóa 1.758 quy định kinh doanh tại 143 văn bản quy phạm pháp luật. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 1.107 quy định của 09, bộ, cơ quan. CÁC LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH VĂN HỌC (3): Cấu trúc luận. Posted on 21 Tháng Chín, 2021 by Admin. 21. Th9. Cấu trúc luận, vốn thịnh hành trong thập niên 1960 và nửa đầu thập niên 1970, được xem là một cuộc cách mạng, thậm chí, là cuộc cách mạng lớn nhất trong lãnh vực nghiên cứu văn Và, để làm được điều đó, phê bình học thuật phải chú ý đến các lý thuyết và phương pháp, nhất là lý thuyết và phương pháp mới. Phê bình học thuật, theo tôi, hiện nay có hai dạng: phê bình thực hành và phê bình lý thuyết. Luyện thi online miễn phí, luyện thi trắc nghiệm trực tuyến miễn phí, trắc nghiệm online, Luyện thi thử thptqg miễn phí Phebinhvanhoc.com.vn Sơ đồ tư duy Khái quát văn học Việt Nam từ the kỉ 10 đến the kỉ 19, Đặc điểm văn học trung đại Việt Nam, Tóm tắt các giai đoạn văn học Việt Nam, Các tác phẩm văn học trung Tài liệu Kiều thanh quế với các trường phái phê bình văn học phương Tây - Trần Thị Mỹ Hiền: TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH TẠP CHÍ KHOA HỌC HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION JOURNAL OF SCIENCE ISSN: 1859-3100 KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Tập 15, Số 11 (2018): 89-98 SOCIAL SCIENCES AND HUMANITIES Vol. 15, No. 11 (2018 motor beat tidak bisa distarter dan diengkol. 1. Đuổi bắt thế giớiCó thể nói, từ những thập niên đầu thề kỷ XX, xã hội Việt Nam mới thực sự tham dự vào cuộc hành trình rời quỹ đạo khu vực để gia nhập quỹ đạo thế giới. Hành trình hiện đại hoánày, trước 1945, hầu như trùng khít với phương Tây hóa. Bởi, thế giới hiện đại trong mắt người Việt Nam bấy giờ chỉ là phương Tây. Còn sau 1975, chúng ta đã có những nẻo khác, như Liên Xô, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á, nhưng, theo tôi, con đường chính vẫn là phương Tây, còn các nước kia chỉ nên coi là những đồng hành sau hội Việt Nam đã và đang hiện đại hóa, nên văn học Việt Nam không thể dẫm chân mãi trong vũng cổ truyền mà không hiện đại hóa. Và, thực tế, hơn một thế kỷ qua, nó cũng đã và đang hiện đại hóa. Từ một văn học trung đại mang đậm chất Nho giáo coi văn học trước hết là con thuyền và cỗ xe chở đạo đến văn học hiện đại coi văn học nơi để khám phá cái đẹp, nơi mang lại những cảm xúc thẩm mỹ. Từ một văn học coi cái đẹp chỉ là cất thần, nên văn chương chuyên chú vào tả thần,đến một văn học đã mở rộng nội hàm cái đẹp sang cả cái thực, nên từ đó mới có thêm dòng văn chương tả một văn học văn thơ phụ lụcphần nhiều vay mượn từ khuôn mẫu Trung Hoa đến mộtvăn học thế giới có những thể loại, như Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại, kịch nói và cả phê bình văn học nữa...Nói "cả phê bình văn học nữa", là tôi muốn ngụ rằng phê bình văn học ở Việt Nam xét như một hoạt động chuyên ngành là một thể loại trước đây chưa từng có. Nó hoàn toàn là con đẻ của sự hiện đại hóa văn học thế kỷ XX. Trong tiến trình hiện đại hóa, phê bình văn học Việt Nam đã trưởng thành băng việc tiếp thu, tự giác hoặc không tự giác, cái tư tưởng phê bình của văn học phương Tây được kết tinh trong lý thuyết và được cụ thể hóa trong phương điểm văn học trung đại Việt Nam hầu như chưa có phương pháp, tuy nhiên nếu có gắng gạn lại để khái quát thì có thể gọi đó là phương pháp cổ điểncó tính chất chủ quanvà giáo chính phương pháp này lại hiện hình rõ rệt hơn ở giai đoạn hình thành của phê bình văn học Việt Nam với nhưng cây bút như Phạm Quỳnh, PhanKhôi...trên báo chí. Thậm chí phương pháp cổ điển vẫn còn ảnh hưởng đến cả Thiếu Sơn, nhà phê bình văn học chuyên nghiệp đầu tiên của lối phê bình phương Tây hiện đại với tác phẩm Phê bìnhvà Cảo luận1933, đặc biệt là tính chất giáo điều. Phương pháp cổ điển của lối phê điểm trung đại đặc biệt là tính chất chủ quan còn ảnh hưởng lớn đến phương pháp ấn tượng mà đại diện đầu tiên và duy nhất của nó là Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam 1942.Trở lại với cuốn sách đầu tiên của phê bình văn học Việt Nam, thiên Phêbình và Cảo luận,của Thiếu phẩm này đã đặt nền móng cho lối tiếp cận khoa học khách quan hoàn toàn mới mẻ được thể hiện ởnhiều phương pháp khác nhau. Trước hết phải kể đến phương pháp tiểu sử do Trần Thanh Mai khởi xướng và đại diện với công trình HànMặcTử 1941.Sau đó là một nhân vật quyết liệt đổi mới khác, kiên quyết kéo phê bình văn học đi theo con đường khoa học khách quan là Trương Tửu. Một mặt, với Nguyễn Du và Truyện Kiều 1942, ông áp dụng phương pháp văn hóa lịch sử của và một vài thủ pháp phân tâm của mặt khác với Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ1945, ông áp dụng phương pháp macxít,một nhánh tả của xã hội học, được khởi xướng từ những năm 30 với Hải 1945, phương pháp xãhội học macxít toàn thắng. Và, trong một thời gian dài, nó trở thành phương pháp độc tôn. Các phương pháp được hình thành và đã có những thành công lớn trước 1945 như phương pháp ấn tượng, tiểu sử, văn hóa, lịch sử... không còn tiếp tục phát triển nữa mà vỡ ra thành những yếu tố gia nhập vào phương pháp mácxít. Phưong pháp này, một mặtđã mang lại nhiều thành công cho phê bình văn học Việt Nam, mặt khác, do tự làm nghèo mình đi bởi sự độc tôn, nên vấp phải một số vấn đề nghệ thuật nan giải, như phản ánh luận, nội dung và hình thức... Những phương thuốc bốc cho nó như nhấn mạnh đặc trưng nghệ thuật của sự phản ánh, đảo lại trật tự các chức năng, đưa ra lý thuyết "phản nghiền"...đều khôngmang lại nhiều kết quả, bởi lẽ đây chỉ là những sửa chữa bộ phận trong một ngôi nhà tổng thể. Phê bình văn học Việt Nam, để thoát khỏi những vấn nạn đó, cần phải được bổ sung thêm những phương pháp khác cập thế giới 1986, đổi mới và mở cửa, trước hết, đã “tháo khoán" và khuyến khích những lối tiếp cận từ ngôn ngữ học cấu trúc của Đó là phương pháp phong cách học của Phan Ngọc với Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều 1985, phương pháp thi pháp học của Trần Đình Sử trong Thi pháp thơ Tố Hữu… Đồng thời, những cấm kỵ về Freud và phương pháp phân tâm học cũng được dỡ bỏ. Bởi thế, bước đầu đã xuất hiện những công trình đi theo hướng này của Đỗ LaiThúy như Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm 1997 và Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực 1999.Như vậy, phê bình văn học Việt Nam đã tiếp thu được nhiều phương pháp của thế giới. Nhưng, điều quan trọng hơn là trong một thếé kỷ qua nó đã đi lại, dù không tự giác, đúng cái diễn trình của tư tưởng phê bình văn học thế giới đó là hành trình Tácgiả -> tác phẩm-> độcgiả. Chính ở điều này cho ta thấy một cái gì đó như là quy luật dù là hậu nghiệm Các văn học dân tộc dù xa cách nhau đến đâu về không gian và thời gian đều có thể tạo thành bản sắc thì sớm muộn gì cũng phải đi trên một con đường như nhau. Khác là khác ở cách chuyến tàu tốc hànhĐể bắt kịp thế giới, phê bình văn học Việt Nam phải lên chuyến tàu nhanh. Tốc hành, người phải có tốc độ cao, còn bỏ qua nhiều điểm đỗ và rút ngăn thời gian dừng chân ở một cuối chặng đường. Bởi vậy, các phương pháp của phê bình văn học Việt Nam xuất hiện gối tiếp nhau chứ không hẳn nối tiếp nhau như ở phương thực, ở phương Tây, phê bình văn học vận hành theo kiểu con lắc. Phương pháp tiểu sử học phát triển hết mức thì ngoài những ưu điểm ra còn bộc lộ cả những khiếm khuyết và để khắc phục chúng thì phương pháp văn hóa lịch sử ra đời và lại phát triển đến hết mức để rồi lại bộc lộkhiếm khuyết. Và đề khắc phục những khiếm khuyết thì phương pháp lịch sử tinh thần nảy sinh... Cứ như vậy, phương pháp này làm tiền đề cho sự ra đời và phát triển của phương pháp kia, nối đuôi nhau để đưa phê bình văn học tiến lên phía trước. Và mỗi một phương pháp đều được triển khai trọn vẹn, hết bình văn học Việt Nam,ngược lại, do phải dừng đến cây gậy rút đường, nên phương pháp này xuất hiện, chưa trải hết mình thì đã có một phương pháp khác xuất hiện, chồng lên nó và cả hai díu nhau đi như những con sóng gối đầu để đến bờ. Bởi thế, có những khoảng thời gian phê bình văn học Việt Nam cùng xuất hiện và cùng tồn tại hoặc được sau chút xíu không đáng kể nhiều phương pháp phê bình. Ví như, chỉ từ 1932 đến 1945 đã lần lượt xuất hiện các phương pháp chỉ xin kể những cái rõ nét hơn cả, như phê bình phân tâm học với HồXuân Hương thân thể và văn tài 1936của Nguyễn Văn Hanh, phê bình ấn tượng với Thi nhân Việt Nam 1942 của Hoài Thanh, phê bình tiểu sử với Hàn mặc Tử1941 của Trần Thanh Mại, phê bình văn hóa - lịch sử với Nguyễn Du và Truyện Kiều 1942của Trương Tửu, phê bình mác xít với Hải Triều, với Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ của Trương Tửu. Hoặc từ 1985 - 2000 phê bình phong cách học với Tìm hiểu phong cách của Nguyễn Du Truyện Kiều1985 của Phan Ngọc, phê bình thi pháp học với Thi pháp thơ Tố Hữu1987 của Trần Đình Sử, phê bình phân tâm học với Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực 1999 của ĐỗLai Thúy...Do tình trạng nước rút như vậy, nên các phương pháp phê bình văn học Việt Nam không thể không có sự đơn giản đã biết, mỗi một phương pháp phê bình ra đời bao giờ cũng có những cơ sở lý thuyết của nó. Xa thì gần với những tư tưởng triết học nào đó, gần thì gắn với nhưng quan niệm mới về mỹ học, về tác phẩm văn học... Bởi vậy, hiểu được cơ sở này thì mới hiểu sâu được phương pháp để sử dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo. Các nhà phê bình Việt Nam, khi vận dụng một phương pháp nào đó, ít có những trình bày lý thuyết. Họ chỉ đưa ra một vài thuyết minh, nhận xét nặng cảm tính về công việc mình làm. Đặc biệt là các phê bình gia trước 1945. Có thể, trong hoàn cảnh thông thường ngoại ngữ bấy giờ, độc giả không xa lạ với các phương pháp của Sainte-bcuve, Brunetière, Lanson... thậm chí họ còn được học trong nhà trường, nên phần giới thiệu lý thuyết là thừa, cốt yếu là vận dụng thế nào. Bởi thế, không ít người thấy những Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh không nói gì, nên cứ tưởng rằng họ là những hiện tượng thuần túy Việt Nam, không có dây mỡ rễ má gì với ngoại nhân. Chỉ có Trương Tửu là ngoại lệ. Và sau 1945, một số ít khác như Phan Ngọc, Trần Đình Sử cũng là ngoại lệ. Có lẽ, những phương pháp họ áp dụng đã vượt ra ngoài những tri thức thông thường đương thời của số không có trình bày lý thuyết dễ dẫn đến một ngộ nhận cái phương pháp cụ thể mà các nhà phê bình Việt Nam dùng đó là toàn bộ phương như thi pháp học đâu chỉ có như thi pháp học của Trần Đình Sử. Đấy chỉ là một nguồn từ NgaXôViết, thậm chí chỉ từ một vài nhà nào đó trong cái nguồn này. Bạn đọc cũng nên biết có những nguồn khác của phương Tây. Hoặc phương pháp xã hội học chẳng hạn. Ngoài xã hội học mácxít ra, còn có xã hội học cấu trúc của thậm chí trong xã hội học mác xít còn có mácxít của Lukacs,mácxít phương Tây... Nếu hiểu biết kỹ hơn về các phân nhánh này thì độc giả dễ có sự đánh giá đúng đắn, nhất là đối với sự phê bình của phê cùng, sự đơn giản hóa còn thể hiện ở chỗ khi vận dụng một phương pháp nhà phê bình dễ lược quy vào một vài công thức nào đó. Ví như, khi vận dụng phân tâm học Freud vào nghiên cứu Hò Xuân Hương, NguyênVăn Hanh chỉ sử dụng công thức dồn nén -> ẩn ức -> thăng hoa. Công thức này về sau đã trở thành chiếc chìa khóa vạn năng dường như mở được vào một tác phẩm có vấn đề tình dục. Tệ hơn, khi đã trở thành khuôn mâu rồi thì người ta lạiláy tác phẩm đề chứng minh công thức. Rồi các công thức khác thi nhau ra đời như phong cáchlà sự chọn lựa,rồi thi pháp học là quan niệmvề con người, không gian nghệ thuật, thờigian nghệ thuật...Thế là sự vận dụng phương pháp từ những thế hệ F2, F3 trở đi đã thành cằn cỗi và sai pháp mới dẫn đến kết quả cũ khiến người ta dễ hoài nghi cái mới, thật là lợi bát cập sự đồng tồn hoặc gối tiếp nhau của các phương pháp nói trên dẫn đến hiện tượng xâm nhập lẫn nhau của các phương pháp. Từ đó, phê bình văn học Việt Nam ít có những phương pháp thuần túy, chuyên nhất mà bao giờ cũng có sự pha tạp.. Ví như, phương pháp ấn tượng của HoàiThanh thì cũng không hẳn là ấn tượng chủ nghĩa như của nước ngoài. Nhà văn hiện đạicủa Vũ Ngọc Phan thì là sự tranh chấp giữa phê bình khoa học và phê bình ấn tương, giảng giải, nhận xét vụn vặt. Đến người cực đoan như Trương Tửu, Phan Ngọc mà trong haitác phẩm viết về TruyệnKiều của hai ông cũng còn thấy sự không thuần nhất về phương pháp. Trương Tửu thì vừa văn hóa lịch sử vừa phân tâm học, còn Phan Ngọc thì những yếu tố xã hội học cứ đâm chen vào phong cách học. Có thể, hợp lực của phương pháp xã hội học thời kỳ thanh xuân và áp lực của nó thời kỳ độc tôn đã gây ra hiện tượng này. Nhưng cũng có thể do con người trồng trọt trong mới người Việt Nam chúng ta có bản chất đa canh chứ không phải chuyên canh. Bởi thế, phê bình văn học Việt Nam không có những người chuyên trị một phương pháp. Thường thì dễ chuyển từ phương pháp này sang phương pháp khác sau một làn thu hoạch hóa lược của kẻ đi chậmMặc dù đã truợt đi rất nhanh để đuổi kịp thế giới, nhưng phê bình văn học Việt Nam văn còn tụt hậu một khoảng cách đó là cái phương pháp tiếp cận tác phẩm từ độc giả, như giải cấu trúc, giải minh họcvà mỹ học tiếp Nam chưa có nhà phê bình nào sẵn sàng thu lấp khoảng cách này. Là người sẽ còn đi sau thế giới một thời gian dài dài nữa, nên chúng ta cần có một chiến lược củakẻ đi hết, hẳn là cái phương châm cổ truyền chậm mà nhiên, nếu nhanh mà chắc thì còn nói làm gì. Erằng đã chậm mà lại còn không thu các phương pháp của nước ngoài là chúng ta tiếp thu cái ngọn, đánh những quả đã chín sẵn, mà để có những quả phương pháp ấy người ta phải đi từ triết học, mỹ học, lý thuyết văn học, phương pháp phê bình văn học. Nếu chúng ta chỉ hái quả, không biết vun gốc thì sự vận dụng của chúng ta chỉ là những áp dụng máy móc, đơn thuần là thao tác kỹ thuật, không thể có sự sáng tạo. Bởi vậy, nhà phê bình cần phải làm một hành trình ngược lại phương pháp phê bình văn học -> lý thuyết văn học -> mỹ học -> triết học để thay đổi cái nhìn nghệ thuậtvà cái nhìn thế giớicủa mình. Tôi gọi đó là cuộc hành hương về nguồn. Và sự thành công của một nhà phê bình phụ thuộc vào sức đi xa của anh ta trong chuyến hành hương đó nên biết nhiều dùng có phương pháp phê bình nào là toàn bích. Mỗi công cụ đều có sở trường và sở những hạn chế của phương pháp này là điều kiện nảy sinh và tòn tại của phương pháp khác. Đấy là lý do cho sự chung sống hòa bình của nhiều phương pháp phê bình mà không nhất thiết phải loại trừ nhau và càng không thể chỉ có một phương pháp độc tôn. Và đây cũng là lý do để nhà phê bình nên biết nhiều phương pháp không chỉ để dễ tìm ra tiếng nói chung mà để cho chính mình khi sử dụng một phương pháp nào đó. Nếu chuyên canh được một phương pháp thì tốt. Bằng không, khi tiếp xúc với tác phẩm thì tùy theo tính chất của tác phẩm mà chọn lấy một phương pháp thích hợp làm chủđạo, còn lấy một số các phương pháp còn lại làm bổ cùng, đấy cũng là lý do để nhà phê bình có thể tiếp cận tác phẩm theo các hệ thống văn học Tác giả -> tác phẩm -> người đọc. Một đánh giá tài liệu tóm tắt và tổng hợp các nghiên cứu học thuật hiện có về một chủ đề cụ thể. Bài phê bình văn học là một dạng bài viết học thuật thường được sử dụng trong các ngành khoa học, khoa học xã hội và nhân văn. Tuy nhiên, không giống như các tài liệu nghiên cứu, thiết lập các lập luận mới và đóng góp ban đầu, các bài phê bình tài liệu tổ chức và trình bày các nghiên cứu hiện có. Là một sinh viên hoặc học giả, bạn có thể viết một bài phê bình tài liệu dưới dạng một bài báo độc lập hoặc như một phần của một dự án nghiên cứu lớn hơn. Để hiểu các bài phê bình văn học, tốt nhất trước tiên bạn nên hiểu chúng không phải là gì . Đầu tiên, các bài phê bình văn học không phải là thư mục. Thư mục là danh sách các nguồn được tham khảo khi nghiên cứu một chủ đề cụ thể. Các bài phê bình văn học không chỉ liệt kê các nguồn mà bạn đã tham khảo chúng tóm tắt và đánh giá một cách nghiêm túc các nguồn đó. Thứ hai, các bài phê bình văn học không được chủ quan. Không giống như một số "bài phê bình" nổi tiếng khác ví dụ như bài phê bình nhà hát hoặc sách, bài phê bình văn học tránh các tuyên bố quan điểm. Thay vào đó, họ tổng kết và đánh giá một cách có phê bình một bộ phận văn học bác học từ một góc độ tương đối khách quan. Viết một bài phê bình tài liệu là một quá trình nghiêm ngặt, đòi hỏi sự đánh giá kỹ lưỡng về chất lượng và kết quả của từng nguồn được thảo luận. Tại sao nên viết một bài phê bình văn học? Viết một bài phê bình văn học là một quá trình tốn nhiều thời gian, đòi hỏi nghiên cứu sâu rộng và phân tích phê bình . Vì vậy, tại sao bạn nên dành quá nhiều thời gian để xem xét và viết về nghiên cứu đã được xuất bản? Biện minh cho nghiên cứu của riêng bạn . Nếu bạn đang viết một bài phê bình tài liệu như một phần của một dự án nghiên cứu lớn hơn , thì bài phê bình tài liệu cho phép bạn chứng minh điều gì làm cho nghiên cứu của riêng bạn có giá trị. Bằng cách tóm tắt các nghiên cứu hiện có về câu hỏi nghiên cứu của bạn, một đánh giá tài liệu cho thấy những điểm đồng thuận và điểm không đồng ý, cũng như những khoảng trống và câu hỏi mở vẫn còn. Có lẽ, nghiên cứu ban đầu của bạn đã xuất hiện từ một trong những câu hỏi mở đó, do đó, bài đánh giá tài liệu đóng vai trò là điểm khởi đầu cho phần còn lại của bài báo của bạn. Chứng minh chuyên môn của bạn. Trước khi bạn có thể viết một bài phê bình văn học, bạn phải đắm mình trong một cơ quan nghiên cứu quan trọng. Vào thời điểm bạn viết bài đánh giá, bạn đã đọc nhiều về chủ đề của mình và có thể tổng hợp và trình bày thông tin một cách hợp lý. Sản phẩm cuối cùng này thiết lập bạn như một cơ quan đáng tin cậy về chủ đề của bạn. Tham gia cuộc trò chuyện . Tất cả các bài viết học thuật là một phần của một cuộc trò chuyện không bao giờ kết thúc một cuộc đối thoại liên tục giữa các học giả và nhà nghiên cứu trên khắp các lục địa, nhiều thế kỷ và các lĩnh vực chủ đề. Bằng cách tạo ra một bài phê bình tài liệu, bạn đang tương tác với tất cả các học giả trước đây, những người đã xem xét chủ đề của bạn và tiếp tục một chu trình chuyển lĩnh vực này về phía trước. Mẹo viết một bài phê bình văn học Mặc dù các hướng dẫn về phong cách cụ thể khác nhau giữa các bộ môn, nhưng tất cả các bài phê bình tài liệu đều được nghiên cứu và tổ chức tốt. Sử dụng các chiến lược sau đây làm hướng dẫn khi bạn bắt tay vào quá trình viết. Chọn một chủ đề với một phạm vi hạn chế. Thế giới nghiên cứu học thuật rất rộng lớn, và nếu bạn chọn một chủ đề quá rộng, quá trình nghiên cứu sẽ dường như không bao giờ kết thúc. Chọn một chủ đề có trọng tâm hẹp và cởi mở để điều chỉnh nó khi quá trình nghiên cứu bắt đầu. Nếu bạn thấy mình sắp xếp hàng nghìn kết quả mỗi khi tiến hành tìm kiếm cơ sở dữ liệu, bạn có thể cần phải tinh chỉnh thêm chủ đề của mình . Ghi chú có tổ chức. Các hệ thống tổ chức như lưới tài liệu rất cần thiết để theo dõi các kết quả đọc của bạn. Sử dụng chiến lược lưới, hoặc một hệ thống tương tự, để ghi lại thông tin chính và các phát hiện / lập luận chính cho mỗi nguồn. Khi bạn bắt đầu quá trình viết, bạn sẽ có thể tham khảo trở lại lưới tài liệu của mình mỗi khi bạn muốn thêm thông tin về một nguồn cụ thể. Chú ý đến các mẫu và xu hướng . Khi bạn đọc, hãy chú ý đến bất kỳ mẫu hoặc xu hướng nào xuất hiện trong số các nguồn của bạn. Bạn có thể phát hiện ra rằng có hai trường phái suy nghĩ rõ ràng hiện có liên quan đến câu hỏi nghiên cứu của bạn. Hoặc, bạn có thể phát hiện ra rằng những ý tưởng phổ biến về câu hỏi nghiên cứu của bạn đã thay đổi đáng kể vài lần trong một trăm năm qua. Cấu trúc của bài phê bình tài liệu của bạn sẽ dựa trên những mẫu bạn khám phá. Nếu không có xu hướng rõ ràng nào nổi bật, hãy chọn cơ cấu tổ chức phù hợp nhất với chủ đề của bạn, chẳng hạn như chủ đề, vấn đề hoặc phương pháp nghiên cứu. Viết một bài phê bình văn học cần có thời gian, sự kiên nhẫn và rất nhiều trí lực. Khi bạn nghiền ngẫm vô số bài báo học thuật, hãy xem xét tất cả các nhà nghiên cứu đi trước bạn và những người sẽ theo dõi. Bài đánh giá tài liệu của bạn không chỉ là một bài tập thông thường đó là một đóng góp cho tương lai lĩnh vực của bạn. 1. Dẫn nhập 2. Phê bình Mới Anh Mỹ 3. Phê bình Xã hội học 4. Phê bình Phân tâm học 5. Phê bình Nữ quyền luận 6. Phê bình Hậu thực dân I. PHÊ BÌNH MỚI ANH MỸ NEW CRITICISM IN ENGLAND &AMERICA Phê bình Mới Anh Mỹ là gì? - Là một trường phái phê bình có vai trò hàng đầu trong môi trường học thuật ở Anh Mỹ từ những năm 20 đến những năm 60 của thế kỷ XX. - Tập trung khám phá văn bản trên mối quan hệ hữu cơ giữa hình thức và ý nghĩa, không coi trọng các yếu tố nằm ngoài văn bản. -Đặc biệt chú ý thể loại thơ ca. -Tựa trên thành tựu tu từ học, thi pháp học, ngôn ngữ học. - Xác lập những phương pháp Đọc kỹ Close -Reading. -Khái niệm Phê bình mới xuất hiện từ một bài giảng của Joel Elias Spingarn The New Criticism A Lecture Delivered at Columbia University, 9 - 3 -1910 và tên cuốn sách New Criticism của John Crowe Ransom năm 1941. Các thuật ngữ chính Key terms - Hàm hồ Ambiguity - Nghịch lý Paradox - Chủ đề Theme - Cốt truyện Plot - Tính trớ trêu Irony độ chênh giữa điều được nói và điều được ám chỉ, giữa nghĩa đen và nghĩa bóng. - Độ căng Tension - Điểm nhìn Point of view - Dạng mẫu âm thanh patterns of sound - Cấu trúc tự sự narrative structure - Văn bản dị ngữ heteroglossic - Phép chuyển nghĩa [trope] - Các biện pháp tu từ hình ảnh image, ẩn dụ metaphor, biểu tượng symbol, nhịp điệu rhythm … - Lầm lẫn về ý định Intentional Fallacy đánh đồng bài thơ với ý đồ của tác giả. - Lầm lẫn về cảm thụ Affective Fallacy nhầm lẫn ý nghĩa của văn bản với tác động cảm xúc của nó lên độc giả. - Dị biệt về diễn giải Heresy of Paraphrase khi giải thích một bài thơ, việc tóm tắt chi tiết hoặc diễn xuôi thường làm sai lệch văn bản. - Đọc kỹ Đọc gần, Đọc tỉ mỉ Close -Reading /Micro – lecture Đọc tập trung một văn bản, phân tích, lý giải hình thức của văn bản trong mối quan hệ với ý nghĩa. 1. 3. Phương pháp Đi tìm mối quan hệ giữa tư tưởng của văn bản và hình thức của nó. cấp của Đọc kỹ Đọc kỹ có bốn cấp - Cấp 1 Đọc từ vựng và ngữ pháp chú ý các khía cạnh của từ vựng, ngữ pháp và cú pháp, con số của bài diễn văn hay bất kỳ tính năng khác đóng góp cho phong cách cá nhân của nhà văn. Miêu tả hiện tượng. - Cấp 2 Đọc ngữ nghĩa khảo sát về ý nghĩa các từ những thông tin mà bài thơ mang đến. Nhận thức về ý nghĩa. - Cấp 3 Đọc kết cấu Khảo sát các mối quan hệ giữa các từ và các ý nghĩa trong văn bản. Phân tích kiểm tra, sàng lọc, đánh giá - Cấp 4 Đọc văn hóa Khảo sát mối quan hệ của các yếu tố bất kỳ của văn bản với những yếu tố bên ngoài nó văn bản khác của cùng tác giả, hoặc những bài viết khác của cùng loại của các nhà văn khác nhau; các yếu tố của lịch sử xã hội, văn hóa, triết học, tâm lý học. Lý giải 1. Các bước của Đọc kỹ - Khởi đầu đọc vài lần văn bản nắm nghĩa chung. Lập danh sách các yếu tố khảo sát. Với bút chì và văn bản đánh dấu các yếu tố cần chú ý. - Xác định nghĩa của từ, nắm bắt những từ khác lạ, từ khóa. Phân tích mối quan hệ của các từ trong câu lặp, tương đồng, đối nghịch. Lý giải sự lựa chọn của tác giả về các từ có tính cá nhân thế nào? tại sao? - Khảo sát cấu trúc văn bản triển khai thế nào ý tưởng, kết cấu - Khảo sát âm thanh và nhịp điệu các yếu tố này tác động đến ý nghĩa thế nào? Có thể dùng các khái niệm thi pháp học và tu từ học để phân tích. Khảo sát các hình thái diễn ngôn so sánh, ẩn dụ, hình ảnh, biểu tượng. - Khảo sát câu các loại câu, trật tự của câu, nhịp điệu của câu. Chú ý khoảng lặng, độ ngưng, các nghịch đảo, song song, lặp lại... Phân tích các yếu tố làm nên tính mơ hồ, đa nghĩa. - Khảo sát văn cảnh Phân tích - Khảo sát tính chất trớ trêu của văn bản - Khảo sát giọng điệu của nhân vật, người tường thuật, tác giả quan hệ giữa các yếu tố đó kiến thức tự sự học. Phân tích giọng điệu, phong cách. Tìm ra sự lựa chọn của tác giả trong sự kết hợp của tất cả các yếu tố nói trên để tạo ra một văn bản độc đáo. - Khảo sát các biện pháp tu từ đã sử dụng ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, hình tượng, biểu tượng… - Khảo sát chủ đề Phát hiện hệ thống chủ đề - Phát hiện giới tính của văn bản - Xác định cốt truyện - Xác lập một đề tài để viết về văn bản, chọn chìa khóa để mở cánh cửa vào văn câu hỏi thường gặp với người đọc Phê bình Mới -Tính hàm hồ của ngôn ngữ? Kết cấu ngôn ngữ? Các tiềm năng liên tưởng của ngôn ngữ văn chương? - Các thủ pháp văn chương đặc thù? Hàm ý của các thủ pháp này? - Phép điệp, phép so sánh, phép liệt kê, phép chơi chữ?phép chuyển nghĩa [trope]? Phép gián cách hay tạo cự ly? Các mệnh đề song song? Các nhịp điệu, vần? - Các nghịch lý về ý nghĩa và từ ngữ? -Những mỉa mai? mâu thuẫn? - Hiệu ứng của hình thức? - Các hình thức bất thường của câu? - Những mù mờ confusion về quy chiếu? - Những chuyển động trong văn bản? - Hệ thống hình tượng? Hệ thống ẩn dụ? Hệ thống biểu tượng? - Các thiết kế tự sự? Câu chuyện được kể ra như thế nào? - Mạch văn bản? Tuyến trần thuật? -Tác phẩm bắt đầu từ đâu? kết thúc thế nào? - Cách quan sát và miêu tả ? - Quan hệ giữa chủ thể và đối tượng? - Hành trình ý thức? khách quan? chủ quan? - Hiệu ứng lạ hóa? Có sự phá vỡ “tầm đón đợi” không? - Các chủ đề được phát ngôn như thế nào? Chủ đề then chốt của tác phẩm nằm ở đâu? Độ căng của chủ đề? - Các môtip giới thiệu trực tiếp/ gián tiếp - Vai trò giải trung tâm của nhân vật? - Các cuộc đối thoại có những ý nghĩa gì? - Các loại ý nghĩa? Nghĩa thông thường/ nghĩa hiển ngôn/ nghĩa đặc thù/ nghĩa tiềm ẩn nghĩa riêng? -Ý nghĩa xã hội khác nhau trong nhân vật? Giải mã những suy nghĩ của nhân vật? - Kỹ thuật xây dựng vở kịch? Diễn tiến của kịch? Hậu trường của cuộc đối thoại? Các ý định bị che giấu? -Văn bản có tập hợp ở trong mình nhiều dạng thức ngôn ngữ không? Văn bản dị ngữ -heteroglossic - Phong cách ngôn ngữ của nhân vật riêng/ chung? - Sắc thái diễn ngôn? uy quyền? mềm mỏng? biến hóa? đơn nghĩa và độc thoại - Có trích dẫn hoặc phong cách hóa và quy chuẩn hóa một diễn ngôn khác không? Ý nghĩa của việc đối thoại hóa dialogization? Những động thái đối thoại hóa? -Những từ ngữ hay hình ảnh đặc thù được dùng để thể hiện các ý nghĩa phổ quát? -Ngôn ngữ và ý nghĩa, tinh thần và vật chất, nội dung và hình thức, cái đặc thù và cái phổ quát… tương hợp, dung hòa với nhau như thế nào? -Có hòa giải thành công giữa những điều trái ngược? “Hòa điệu của những xung khắc” cái phổ quát và cái đơn nhất? Các ý nghĩa phổ quát và những nét đặc thù cụ thể?... -Những hình tượng trong tương quan với vẻ ngoài? - Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên? - Tính chất của chủ thể? - Tính chất bất ổn của tri giác? - Tính nước đôi của bài thơ? - Tính chất phân mảnh thời gian, không gian, ý nghĩa… - Ký ức và trí tưởng tượng? - Các dạng ý nghĩa tôn giáo, văn hóa, chính trị… .... cầu -Tiếp cận sâu về văn bản trong khả năng cao nhất. - Lập một hê thống câu hỏi chi tiết. - Giữ lại tính đa nghĩa và phức tạp của văn bản. 1. luận Là một phương pháp thực hành, phê bình Mới Anh Mỹ chủ yếu tập trung vào mô tả, phân tích, lý giải hơn là nhận định về giá trị thẩm mỹ hay ý nghĩa cách tân của các tác phẩm văn học. Ảnh hưởng lâu dài, sâu đậm Phê Bình Mới được giảng dạy trong hầu hết các trường đại học Mỹ, và từ Mỹ, lan rộng sang hầu hết các quốc gia nói tiếng Anh khác. về phân tích thơ ca. Rèn luyện kỹ năng phân tích sâu văn bản, là phương pháp trợ thủ hữu hiệu cho các phương pháp khác. 2. PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC - SOCIOCRITICISM Phê bình Xã hội học là gì? - Là một trường phái phê bình manh nha vào thế kỷ 19, hình thành và phát triển mạnh vào thế kỷ 20, phân nhánh và dung hợp vào thế kỷ 21. - Khi tiếp cận sự kiện văn học, tập trung khảo sát những yếu tố xã hội có mặt trong văn bản. Xác lập, miêu tả, lý giải những tương quan giữa xã hội và tác phẩm văn học. - Đề cao lý trí, chú ý con người xã hội và xem trọng mối quan hệ nhân quả giữa xã hội và văn học. - Khái niệm “socio-critique” được Claude Duchet khai sinh năm 1971, khi ông đề nghị một cách đọc lịch sử -xã hội về văn bản, ấy là “một thi học nghiên cứu về tính xã hội, gắn liền với một cách đọc trên góc độ hệ tư tưởng, chú ý sự đặc thù của văn bản” C. Duchet - Phê bình Xã hội học hiện đại hiện nay có ba nhánh chính 1 Xã hội học về công việc sáng tạo Lucien Goldmann 2 Xã hội học về trường văn học Pierre Bourdieu 3 Xã hội học về tiếp nhận Hans Robert Jauss. Các phương pháp chính của Phê bình Xã hội học Các bước tiến hành của phê bình Xã hội học truyền thống 1. Chọn văn bản 2. Xác định bối cảnh ra đời của tác phẩm. 3. Tóm tắt nội dung tác phẩm. 4. Xác lập hệ thống nhân vật. 5. Xác định mâu thuẫn xã hội và tính giai cấp của các nhân vật trong tác phẩm. 6. Xác định tính điển hình của nhân vật. 7. Xác định tính điển hình của hoàn cảnh 8. Xác định xu hướng chính trị của nhà văn. 9. Đi tìm giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm Các bước tiến hành của phê bình Xã hội học hiện đại 1. Chọn văn bản 2. Xác lập các cấu trúc ý nghĩa trong tác phẩm. 3. Xác lập các cấu trúc xã hội tương ứng. 4. Cắt nghĩa mối quan hệ giữa cấu trúc ý nghĩa này với cấu trúc xã hội. 5. Khảo sát sự vận động của các cấu trúc trên. 6. Phát hiện mối quan hệ giữa giữa tư tưởng tác giả và tư tưởng tác phẩm nhất quán hay có một độ chênh nhất định 7. Khảo sát yếu tố chính trị trong tác phẩm văn học văn học hậu thực dân. 8. Chú ý tính xã hội- lịch sử của cách viết. 9. Khảo sát tác động của xã hội cơ chế, chính sách với tác phẩm và tác giả xã hội học văn học. 10. Khảo sát tác động của công chúng với tác phẩm và tác giả mỹ học tiếp nhận. 11. Khảo sát yếu tố giới tính trong tác phẩm văn học văn học nữ quyền. 2. 3. KẾT LUẬN 1. PBXHH là trường phái phê bình có lưu vực rộng nhất và giòng chảy dài nhất so với những trường phái PB khác. 2. Nếu phê bình xã hội học truyền thống nặng tínhquy phạm và quyết định luận thì phê bình xã hội học hiện đại cởi mở hơn, đã làm mới lại lịch sử văn chương bằng một kiếm tìm mở rộng, thông thái và nhạy cảm về phương diện xã hội. Mặt khác, nhờ những tìm tòi trên thực tế văn bản mà nó tiếp cận với ký hiệu học văn học và phân tâm học. 3 .PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC PSYCHO-CRITICISM Phê bình phân tâm học là gì? - Là xu hướng phê bình manh nha từ cuối thế kỷ XIX, với lý thuyết Phân tâm học Psychoanalysis của Sigmund Freud, phát triển mạnh mẽ trong nửa đầu thế kỷ XX, phân nhánh& dung hợp nửa sau thế kỷ XX. - Tiếp cận tác phẩm văn học trên các nguyên tắc về tâm lý học, cụ thể là vô thức. Với S. Freud là vô thức cá nhân, với Jung là vô thức tập thể. - Thuật ngữ phê bình Phân tâm học được khai sinh bởi Charles Mauron năm 1949. - Phê bình phân tâm học là một phương pháp diễn dịch. - Đối tượng của PBPTH là tâm lý của tác giả, tâm lý của nhân vật và tâm lý của độc giả. - Có hai xu hướng PBPTH cổ điển & PBPTH hiện đại Sau S. Freud, phê bình phân tâm học phát triển theo nhiều hướng 1. Tập trung vào tác giả và tiểu sử tác giả Marie Bonaparte 2. Kết hợp cả hai khuynh hướng, nghiên cứu chủ đề Charles Mauron, Vô thức trong tác phẩm và cuộc đời của Racine, G. Bachelard. 3. Tập trung vào văn bản Jean- Bellemin Noël 4. Nghiên cứu văn hóa với tâm bệnh học tộc người G. Devereux 5. Kết hợp phân tâm học và Thiền E. Fromm 6. Kết hợp phân tâm học và folklore V. Dundes 7. Phên tâm học tập trung vào người đọc N. Holland 8. Phân tâm học và cấu trúc - kí hiệu học Jacques Lacan Gợi ý về phương pháp Có nhiều hướng tiếp cận 1. Nghiên cứu nhà văn như một cá thể hoặc loại hình Tiến hành phân tâm tác giả. 2. Nghiên cứu quá trình sáng tác. 3. Nghiên cứu các loại hình và phép tắc tâm lý trong tác phẩm cấu trúc tâm lý nhân vật, khám phá ý nghĩa tiến hành phân tâm nhân vật trong tác phẩm, khi đó ít nhiều người ta xem nhân vật như là những con người thực, hình dung có một “vô thức của văn bản” thuộc về tác phẩm. 4. Nghiên cứu tâm lý độc giả thị hiếu, xu hướng đọc, những chia sẻ/ không chia sẻ… Các tiêu điểm cần phân tích -Vô thức -Bản năng tính dục -Cấu trúc nhân cách - Giấc mơ - Mặc cảm Oedip -Xung đột về tâm lý -Những mâu thuẫn, bất thường trong diễn ngôn - Các chủ đề - Hiện tượng chia cắt separation - Những môtíp mất mát loss, chấn thương, lo âu, sợ hãi, ám ảnh, trầm uất, mộng du, kháng cự, tự vệ, bế tắc và hòa giải … - Hiện tượng thiếu hụt/ bù trừ, ngưng đọng/ dịch chuyển, mất trật tự về ranh giới, lẫn lộn giữa thế giới bên trong và thế giới bên ngoài, che giấu, thèm muốn, ngụy trang, thiếu ý thức về bản thân, không nối kết được với người khác… -Các từ ngữ thuộc tính dục và các biểu hiện tính dục của nhân vật - Cắt nghĩa hiện tượng tâm lý bằng nguồn gốc cá nhân/ nguồn gốc gia đình, xã hội… kiện để thực hành PBPTH -Thành thạo lý thuyết Freud - Hiểu biết thấu đáo về lịch sử thời đại hoặc về ngôn ngữ. -Huy động cảm xúc ở cường độ cực mạnh. -Có khả năng phân tích và tự phân tích thường xuyên Kết luận 1. Bị định kiến của xã hội 2. Phạm vi tác phẩm khảo sát hẹp 3. Nghiên cứu phê bình là công việc của ý thức mâu thuẫn. 4. Kỹ năng phân tích, cần kết hợp với nhiều thao tác khác, khó 5. Dễ bị suy diễn khiên cưỡng mơ hồ 4. PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN FEMINISM CRITICISM Phê bình nữ quyền là gì? Là một trường phái phê bình văn học thoát thai từ phong trào chính trị xã hội đấu tranh cho quyền bình đẳng phụ nữ, phát triển mạnh mẽ vào giữa thế kỷ XX, chủ trương xác lập một nền mỹ học, lý luận văn học và sáng tác văn học riêng cho giới nữ. Những dung hợp • Phê bình Nữ quyền văn bản • Phê bình Nữ quyền phân tâm học • Phê bình Nữ quyền hậu cấu trúc luận • Phê bình Nữ quyền duy vật • Phê bình nữ quyền hậu hiện đại • Phê bình nữ quyền và đồng tính • Phê bình nữ quyền hậu thuộc địa • Phê bình nữ quyền và kỹ thuật thân thể Gợi ý phương pháp tiếp cận nữ quyền - Chọn văn bản - Chú ý tác giả -Khảo sát nhân vật - Khảo sát điểm nhìn -Khảo sát hệ chủ đề -Phân tích diễn ngôn -Lý giải Các câu hỏi khi đọc nữ quyền? - Nên chọn văn bản nào? truyền miệng/ viết cũ/ mới, đàn bà/ đàn ông, tự sự/ trữ tình? -Tác phẩm được thừa nhận/ bị quên lãng/ bị phê phán? -Các nhân vật nào mang tư tưởng nữ quyền? -Các nhân vật nào mang số phận nữ giới? Kết luận Phê bình văn học Nữ quyền có lịch sử không dài, phát triển theo hướng phân nhánh và dung hợp với các trường phái khác. 5. PHÊ BÌNH HẬU THỰC DÂN POSTCOLONIAL CRITICISM 5. bình Hậu thực dân là gì? Là trường phái phê bình thuộc phạm trù hậu hiện đại, chủ trương đi tìm trong tác phẩm văn học các dấu vết của chính sách thực dân. Xuất hiện vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, bắt nguồn từ tác phẩm Orientalism 1978 của Edward W. Said và tiểu luận "Postcolonial Criticism" 1992, Homi K. Bhabha. Phê bình hậu thực dân chịu ảnh hưởng PB Marxist, Phê bình Giải Cấu trúc và tư tưởng Michel Foucault . 5. 2. Các khái niệm chính? Cái khác Other/ Sự khác biệt Difference Chủ nghĩa độc tôn Monocentrism Tính nước đôi Ambivalent Tính lai ghép Hybridity Tính bắt chước Mimic Văn học hậu thực dân Post-colonialist literature Sự đề kháng Resistance Chủ nghĩa quốc gia Nationalism Diễn ngôn hậu thực dân Postcolonial discourse Diễn ngôn thực dân Colonial discourse Đối tượng -Văn học trong các nước thuộc địa/ văn học ở các nước thực dân -Văn học trong thời kỳ bị chiếm đóng/ Văn học từ thời kỳ bị chiếm đóng đến nay -Những hệ quả mà chính sách thực dân để lại trên đời sống văn học áp đặt, ảnh hưởng, kháng cự, tái tạo, những mâu thuẫn trong tâm thức dân tộc tự tôn/ tự ti, hoài cổ/ chạy theo cái mới, văn hóa, lịch sử bị phân mảnh, cắt vụn.“Người dân thuộc địa có rất nhiều quá khứ nhưng lại không có lịch sử” Nguyễn Hưng Quốc - “Văn học hậu thực dân” có các chủ đề chính +Sự biến đổi hay sự ăn mòn văn hóa xã hội Dường như mỗi khi nền độc lập được hình thành, một vấn đề chủ yếu lại nảy sinh; đâu là đặc trưng văn hóa mới? +Sai lầm trong đường lối vận dụng quyền lực và khai thác Mặc dù đã không còn bị lèo lái như một thuộc địa, người dân bản xứ dường như vẫn còn bị áp chế bởi những người định cư tại đây. Câu hỏi đặt ra là, ai là kẻ thực sự nắm quyền ở đây, và làm sao để ngày Độc lập thực sự mang ý nghĩa độc lập? +Sự tan rã và chuyển hóa của thuộc địa Chủ đề này thường được đưa ra để khảo cứu về cá nhân thay vì về tổng thể miền đất hậu thuộc địa. Những con người cá nhân thường tự hỏi mình; trên đất nước mới này, điều gì phù hợp với mình và mình có thể kiếm sống bằng cách nào? +Ứng dụng văn học Anh ngữ người ta có thể hỏi liệu ta có thể đạt được yêu cầu mục đích của các môn học hậu thuộc địa, ví dụ như phân tích văn học và văn hóa hậu thuộc địa, mà không quan tâm tới những tác phẩm văn học được viết bằng ngôn ngữ gốc của các quốc gia hậu thuộc địa hay không. Những gợi ý về phương pháp Triển khai từ các khái niệm xem mục Chú ý các yếu tố sau trong văn bản -sự hòa trộn của tái hiện và thực tại hoặc về việc lẫn lộn tái hiện với thực tại -mặc cảm tự ti/tự tôn dân tộc -những khúc xạ - những đồng hóa - sự tái hiện lịch sử - quá khứ và hiện tại, tái hiện và thực tại - bạo lực đế quốc. - kháng cự/ tuân phục - quyền lực về kinh tế, quyền lực về tình dục câu hỏi thường gặp khi đọc Phê bình Hậu thực dân -Các văn bản văn học tái hiện, hiển lộ hay ẩn ngầm, các phương diện của các áp chế thực dân như thế nào? -Văn bản tiết lộ những gì về sự phức tạp trong bản sắc hậu thuộc địa, bao gồm mối quan hệ giữa bản sắc văn hóa và bản sắc cá nhân, và những vấn đề như ý thức kép, và sự lai tạp? -Những người hay nhóm người nào được định nghĩa là “người khác” hay kẻ xa lạ trong tác phẩm? Những người/nhóm người đó được miêu tả và đối xử như thế nào? -Văn bản tiết lộ những gì về mặt chính trị / tâm lý của làn sóng chống thực dân? -Văn bản tiết lộ những gì về những tác động của sự khác biệt văn hóa – cách thức mà sắc tộc, tôn giáo, giai cấp, phái tính, định hướng giới tính, tín ngưỡng văn hóa, và phong tục kết hợp với nhau tạo nên bản sắc cá nhân – trong việc định hình nhận thức của chúng ta về bản thân và người khác, và về thế giới mà chúng ta đang sống bên trong? -Văn bản trả lời hay đưa ra nhận xét đối với những nhân vật, đề tài, hay giả thuyết của một tác phẩm thực dân được đề cao như thế nào? -Các nền văn học của các cộng đồng hậu thuộc địa có những điểm chung quan trọng nào? luận Là một trường phái tiếp cận trên xu hướng văn hóa chính trị, Phê bình Hậu thực dân ngày càng phát triển theo hướng phân nhánh ở các quốc gia. Đề cương bài giảng PGS. Ts. Nguyễn Thị Thanh Xuân GV Trường Đh KHXH&NV Tp. HCM Khoa Văn học&Ngôn ngữ > Bài viết được đăng 20/3/2014 Ngày đăng 29/08/2017, 1134 ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH VĂN HỌC Dẫn nhập Phê bình Mới Anh Mỹ Phê bình Xã hội học Phê bình Phân tâm học Phê bình Nữ quyền luận Phê bình Hậu thực dân I PHÊ BÌNH MỚI ANH MỸ NEW CRITICISM IN ENGLAND &AMERICA Phê bình Mới Anh Mỹ gì? - Là trường phái phê bình có vai trò hàng đầu môi trường học thuật Anh Mỹ từ năm 20 đến năm 60 kỷ XX - Tập trung khám phá văn mối quan hệ hữu hình thức ý nghĩa, không coi trọng yếu tố nằm văn -Đặc biệt ý thể loại thơ ca -Tựa thành tựu tu từ học, thi pháp học, ngôn ngữ học - Xác lập phương pháp Đọc kỹ Close -Reading -Khái niệm Phê bình xuất từ giảng Joel Elias Spingarn The New Criticism A Lecture Delivered at Columbia University, 9 - -1910 tên sách New Criticism John Crowe Ransom năm 1941 Các thuật ngữ Key terms - Hàm hồ Ambiguity - Nghịch lý Paradox - Chủ đề Theme - Cốt truyện Plot - Tính trớ trêu Irony độ chênh điều nói điều ám chỉ, nghĩa đen nghĩa bóng - Độ căng Tension - Điểm nhìn Point of view - Dạng mẫu âm patterns of sound - Cấu trúc tự narrative structure - Văn dị ngữ heteroglossic - Phép chuyển nghĩa [trope] - Các biện pháp tu từ hình ảnh image, ẩn dụ metaphor, biểu tượng symbol, nhịp điệu rhythm … - Lầm lẫn ý định Intentional Fallacy đánh đồng thơ với ý đồ tác giả - Lầm lẫn cảm thụ Affective Fallacy nhầm lẫn ý nghĩa văn với tác động cảm xúc lên độc giả - Dị biệt diễn giải Heresy of Paraphrase giải thích thơ, việc tóm tắt chi tiết diễn xuôi thường làm sai lệch văn - Đọc kỹ Đọc gần, Đọc tỉ mỉ Close -Reading /Micro – lecture Đọc tập trung văn bản, phân tích, lý giải hình thức văn mối quan hệ với ý nghĩa Phương pháp Đi tìm mối quan hệ tư tưởng văn hình thức cấp Đọc kỹ Đọc kỹ có bốn cấp - Cấp 1 Đọc từ vựng ngữ pháp ý khía cạnh từ vựng, ngữ pháp cú pháp, số diễn văn hay tính khác đóng góp cho phong cách cá nhân nhà văn Miêu tả tượng - Cấp 2 Đọc ngữ nghĩa khảo sát ý nghĩa từ thông tin mà thơ mang đến Nhận thức ý nghĩa - Cấp 3 Đọc kết cấu Khảo sát mối quan hệ từ ý nghĩa văn Phân tích kiểm tra, sàng lọc, đánh giá - Cấp 4 Đọc văn hóa Khảo sát mối quan hệ yếu tố bất kỳ văn với yếu tố bên văn khác tác giả, viết khác loại nhà văn khác nhau; yếu tố lịch sử xã hội, văn hóa, triết học, tâm lý học Lý giải Các bước Đọc kỹ - Khởi đầu đọc vài lần văn nắm nghĩa chung Lập danh sách yếu tố khảo sát Với bút chì văn bản đánh dấu yếu tố cần ý - Xác định nghĩa từ, nắm bắt từ khác lạ, từ khóa Phân tích mối quan hệ từ câu lặp, tương đồng, đối nghịch Lý giải lựa chọn tác giả từ có tính cá nhân nào? sao? - Khảo sát cấu trúc văn triển khai ý tưởng, kết cấu - Khảo sát âm nhịp điệu yếu tố tác động đến ý nghĩa nào? Có thể dùng khái niệm thi pháp học tu từ học để phân tích Khảo sát hình thái diễn ngôn so sánh, ẩn dụ, hình ảnh, biểu tượng - Khảo sát câu loại câu, trật tự câu, nhịp điệu câu Chú ý khoảng lặng, độ ngưng, nghịch đảo, song song, lặp lại Phân tích yếu tố làm nên tính mơ hồ, đa nghĩa - Khảo sát văn cảnh Phân tích - Khảo sát tính chất trớ trêu văn - Khảo sát giọng điệu nhân vật, người tường thuật, tác giả quan hệ yếu tố kiến thức tự học Phân tích giọng điệu, phong cách Tìm lựa chọn tác giả kết hợp tất yếu tố nói để tạo văn độc đáo - Khảo sát biện pháp tu từ sử dụng ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, hình tượng, biểu tượng… - Khảo sát chủ đề Phát hệ thống chủ đề - Phát giới tính văn - Xác định cốt truyện - Xác lập đề tài để viết văn bản, chọn chìa khóa để mở cánh cửa vào văn câu hỏi thường gặp với người đọc Phê bình Mới -Tính hàm hồ ngôn ngữ? Kết cấu ngôn ngữ? Các tiềm liên tưởng ngôn ngữ văn chương? - Các thủ pháp văn chương đặc thù? Hàm ý thủ pháp này? - Phép điệp, phép so sánh, phép liệt kê, phép chơi chữ?phép chuyển nghĩa [trope]? Phép gián cách hay tạo cự ly? Các mệnh đề song song? Các nhịp điệu, vần? - Các nghịch lý về ý nghĩa từ ngữ? -Những mỉa mai? mâu thuẫn? - Hiệu ứng hình thức? - Các hình thức bất thường câu? - Những mù mờ confusion quy chiếu? - Những chuyển động văn bản? - Hệ thống hình tượng? Hệ thống ẩn dụ? Hệ thống biểu tượng? - Các thiết kế tự sự? Câu chuyện kể nào? - Mạch văn bản? Tuyến trần thuật? -Tác phẩm đâu? kết thúc nào? - Cách quan sát miêu tả ? - Quan hệ chủ thể đối tượng? - Hành trình ý thức? khách quan? chủ quan? - Hiệu ứng lạ hóa? Có phá vỡ “tầm đón đợi” không? - Các chủ đề phát ngôn nào? Chủ đề then chốt tác phẩm nằm đâu? Độ căng chủ đề? - Các môtip giới thiệu trực tiếp/ gián tiếp - Vai trò giải trung tâm nhân vật? - Các đối thoại có ý nghĩa gì? - Các loại ý nghĩa? Nghĩa thông thường/ nghĩa hiển ngôn/ nghĩa đặc thù/ nghĩa tiềm ẩn nghĩa riêng? -Ý nghĩa xã hội khác nhân vật? Giải mã suy nghĩ nhân vật? - Kỹ thuật xây dựng kịch? Diễn tiến kịch? Hậu trường đối thoại? Các ý định bị che giấu? -Văn có tập hợp nhiều dạng thức ngôn ngữ không? Văn dị ngữ -heteroglossic - Phong cách ngôn ngữ nhân vật riêng/ chung? - Sắc thái diễn ngôn? uy quyền? mềm mỏng? biến hóa? đơn nghĩa độc thoại - Có trích dẫn phong cách hóa quy chuẩn hóa diễn ngôn khác không? Ý nghĩa việc đối thoại hóa ? Những động thái đối thoại hóa? -Những từ ngữ hay hình ảnh đặc thù dùng để thể ý nghĩa phổ quát? -Ngôn ngữ ý nghĩa, tinh thần vật chất, nội dung hình thức, đặc thù phổ quát… tương hợp, dung hòa với nào? -Có hòa giải thành công điều trái ngược? “Hòa điệu xung khắc” phổ quát đơn nhất? Các ý nghĩa phổ quát nét đặc thù cụ thể? -Những hình tượng tương quan với vẻ ngoài? - Mối quan hệ người tự nhiên? - Tính chất chủ thể? - Tính chất bất ổn tri giác? - Tính nước đôi thơ? - Tính chất phân mảnh thời gian, không gian, ý nghĩa… - Ký ức trí tưởng tượng? - Các dạng ý nghĩa tôn giáo, văn hóa, trị… cầu -Tiếp cận sâu văn khả cao - Lập thống câu hỏi chi tiết - Giữ lại tính đa nghĩa phức tạp văn luận Là phương pháp thực hành, phê bình Mới Anh Mỹ chủ yếu tập trung vào mô tả, phân tích, lý giải nhận định giá trị thẩm mỹ hay ý nghĩa cách tân tác phẩm văn học Ảnh hưởng lâu dài, sâu đậm Phê Bình Mới giảng dạy hầu hết trường đại học Mỹ, từ Mỹ, lan rộng sang hầu hết quốc gia nói tiếng Anh khác phân tích thơ ca Rèn luyện kỹ phân tích sâu văn bản, phương pháp trợ thủ hữu hiệu cho phương pháp khác PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC - SOCIOCRITICISM - Phê bình Xã hội học gì? Là trường phái phê bình manh nha vào kỷ 19, hình thành phát triển mạnh vào kỷ 20, phân nhánh dung hợp vào kỷ 21 Khi tiếp cận kiện văn học, tập trung khảo sát yếu tố xã hội có mặt văn Xác lập, miêu tả, lý giải tương quan xã hội tác phẩm văn học Đề cao lý trí, ý người xã hội xem trọng mối quan hệ nhân xã hội văn học Khái niệm “socio-critique” Claude Duchet khai sinh năm 1971, ông đề nghị cách đọc lịch sử -xã hội văn bản, “một thi học nghiên cứu tính xã hội, gắn liền với cách đọc góc độ hệ tư tưởng, ý đặc thù văn bản” C Duchet - Phê bình Xã hội học đại có ba nhánh 1 Xã hội học công việc sáng tạo Lucien Goldmann 2 Xã hội học trường văn học Pierre Bourdieu 3 Xã hội học tiếp nhận Hans Robert Jauss Các phương pháp Phê bình Xã hội học Các bước tiến hành phê bình Xã hội học truyền thống Chọn văn Xác định bối cảnh đời tác phẩm Tóm tắt nội dung tác phẩm Xác lập hệ thống nhân vật Xác định mâu thuẫn xã hội tính giai cấp nhân vật tác phẩm Xác định tính điển hình nhân vật Xác định tính điển hình hoàn cảnh Xác định xu hướng trị nhà văn Đi tìm giá trị thực giá trị nhân đạo tác phẩm Các bước tiến hành phê bình Xã hội học đại Chọn văn Xác lập cấu trúc ý nghĩa tác phẩm Xác lập cấu trúc xã hội tương ứng Cắt nghĩa mối quan hệ cấu trúc ý nghĩa với cấu trúc xã hội Khảo sát vận động cấu trúc Phát mối quan hệ giữa tư tưởng tác giả tư tưởng tác phẩm quán hay có độ chênh định Khảo sát yếu tố trị tác phẩm văn học văn học hậu thực dân Chú ý tính xã hội- lịch sử cách viết Khảo sát tác động xã hội cơ chế, sách với tác phẩm tác giả xã hội học văn học 10 Khảo sát tác động công chúng với tác phẩm tác giả mỹ học tiếp nhận 11 Khảo sát yếu tố giới tính tác phẩm văn học văn học nữ quyền 2 KẾT LUẬN PBXHH trường phái phê bình có lưu vực rộng giòng chảy dài so với trường phái PB khác Nếu phê bình xã hội học truyền thống nặng tínhquy phạm định luận phê bình xã hội học đại cởi mở hơn, làm lại lịch sử văn chương kiếm tìm mở rộng, thông thái nhạy cảm phương diện xã hội Mặt khác, nhờ tìm tòi thực tế văn mà tiếp cận với ký hiệu học văn học phân tâm học PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC PSYCHO-CRITICISM Phê bình phân tâm học gì? - Là xu hướng phê bình manh nha từ cuối kỷ XIX, với lý thuyết Phân tâm học Psychoanalysis Sigmund Freud, phát triển mạnh mẽ nửa đầu kỷ XX, phân nhánh& dung hợp nửa sau kỷ XX - Tiếp cận tác phẩm văn học nguyên tắc tâm lý học, cụ thể vô thức Với S Freud vô thức cá nhân, với Jung vô thức tập thể - Thuật ngữ phê bình Phân tâm học khai sinh Charles Mauron năm 1949 - Phê bình phân tâm học phương pháp diễn dịch - Đối tượng PBPTH tâm lý tác giả, tâm lý nhân vật tâm lý độc giả - Có hai xu hướng PBPTH cổ điển & PBPTH đại Sau S Freud, phê bình phân tâm học phát triển theo nhiều hướng Tập trung vào tác giả tiểu sử tác giả Marie Bonaparte Kết hợp hai khuynh hướng, nghiên cứu chủ đề Charles Mauron, Vô thức tác phẩm đời Racine, G Bachelard Tập trung vào văn Jean- Bellemin Noël Nghiên cứu văn hóa với tâm bệnh học tộc người G Devereux Kết hợp phân tâm học Thiền E Fromm Kết hợp phân tâm học folklore V Dundes Phên tâm học tập trung vào người đọc N Holland Phân tâm học cấu trúc - kí hiệu học Jacques Lacan Gợi ý phương pháp Có nhiều hướng tiếp cận Nghiên cứu nhà văn cá thể loại hình Tiến hành phân tâm tác giả Nghiên cứu trình sáng tác Nghiên cứu loại hình phép tắc tâm lý tác phẩm cấu trúc tâm lý nhân vật, khám phá ý nghĩa tiến hành phân tâm nhân vật tác phẩm, nhiều người ta xem nhân vật người thực, hình dung có “vô thức văn bản” thuộc tác phẩm Nghiên cứu tâm lý độc giả thị hiếu, xu hướng đọc, chia sẻ/ không chia sẻ… Các tiêu điểm cần phân tích -Vô thức -Bản tính dục -Cấu trúc nhân cách - Giấc mơ - Mặc cảm Oedip -Xung đột tâm lý -Những mâu thuẫn, bất thường diễn ngôn - Các chủ đề - Hiện tượng chia cắt - Những môtíp mát, chấn thương, lo âu, sợ hãi, ám ảnh, trầm uất, mộng du, kháng cự, tự vệ, bế tắc hòa giải … - Hiện tượng thiếu hụt/ bù trừ, ngưng đọng/ dịch chuyển, trật tự ranh giới, lẫn lộn giới bên giới bên ngoài, che giấu, thèm muốn, ngụy trang, thiếu ý thức thân, không nối kết với người khác… -Các từ ngữ thuộc tính dục biểu tính dục nhân vật - Cắt nghĩa tượng tâm lý nguồn gốc cá nhân/ nguồn gốc gia đình, xã hội… kiện để thực hành PBPTH -Thành thạo lý thuyết Freud - Hiểu biết thấu đáo lịch sử thời đại ngôn ngữ -Huy động cảm xúc cường độ cực mạnh -Có khả phân tích tự phân tích thường xuyên Kết luận Bị định kiến xã hội Phạm vi tác phẩm khảo sát hẹp Nghiên cứu phê bình công việc ý thức mâu thuẫn Kỹ phân tích, cần kết hợp với nhiều thao tác khác, khó Dễ bị suy diễn khiên cưỡng mơ hồ PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN FEMINISM CRITICISM Phê bình nữ quyền gì? Là trường phái phê bình văn học thoát thai từ phong trào trị xã hội đấu tranh cho quyền bình đẳng phụ nữ, phát triển mạnh mẽ vào kỷ XX, chủ trương xác lập mỹ học, lý luận văn học sáng tác văn học riêng cho giới nữ Những dung hợp • Phê bình Nữ quyền văn • Phê bình Nữ quyền phân tâm học • Phê bình Nữ quyền hậu cấu trúc luận • Phê bình Nữ quyền vật • Phê bình nữ quyền đồng tính • Phê bình nữ quyền hậu thuộc địa Gợi ý phương pháp tiếp cận nữ quyền - Chọn văn - Chú ý tác giả -Khảo sát nhân vật - Khảo sát điểm nhìn -Khảo sát hệ chủ đề -Phân tích diễn ngôn -Lý giải Các câu hỏi đọc nữ quyền? - Nên chọn văn nào? truyền miệng/ viết cũ/ mới, đàn bà/ đàn ông, tự sự/ trữ tình? -Tác phẩm thừa nhận/ bị quên lãng/ bị phê phán? -Các nhân vật mang tư tưởng nữ quyền? -Các nhân vật mang số phận nữ giới? - Diễn ngôn nữ quyền? - Tư tưởng nữ quyền? Kết luận Phê bình văn học Nữ quyền có lịch sử không dài, phát triển theo hướng phân nhánh dung hợp với trường phái khác ... Những dung hợp • Phê bình Nữ quyền văn • Phê bình Nữ quyền phân tâm học • Phê bình Nữ quyền hậu cấu trúc luận • Phê bình Nữ quyền vật • Phê bình nữ quyền đồng tính • Phê bình nữ quyền hậu thuộc... khác, nhờ tìm tòi thực tế văn mà tiếp cận với ký hiệu học văn học phân tâm học PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC PSYCHO-CRITICISM Phê bình phân tâm học gì? - Là xu hướng phê bình manh nha từ cuối kỷ... Xã hội học công việc sáng tạo Lucien Goldmann 2 Xã hội học trường văn học Pierre Bourdieu 3 Xã hội học tiếp nhận Hans Robert Jauss Các phương pháp Phê bình Xã hội học Các bước - Xem thêm -Xem thêm đề cương bài giảng các phương pháp phê bình văn học , đề cương bài giảng các phương pháp phê bình văn học , Lý thuyết hậu thực dân ra đời vào khoảng đầu thập niên 1990, trước hết, từ ảnh hưởng của cuốn Orientalism của Edward W. Said, xuất bản lần đầu năm 1978 Phần tóm lược dưới đây chỉ nhằm cung cấp cho bạn đọc một tấm bản đồ’ của các lý thuyết văn học lớn trên thế giới từ đầu thế kỷ 20 đến nay, chủ yếu để giúp bạn đọc dễ theo dõi các bài viết về lý thuyết và phê bình văn học đăng tải trên Tiền Vệ. Khi đọc, xin bạn đọc lưu ý cho một điểm không có một lý thuyết nào có thể được tóm lược một cách trung thành và trung thực, do đó, tấm bản đồ’ này chỉ nên được sử dụng như một cơ sở để tham khảo, từ đó, đọc thêm, hơn là để đánh giá các lý thuyết ấy. Với mục đích giới thiệu’, tôi chỉ chọn một số những lý thuyết chính và có ảnh hưởng nhất mà thôi. ó là Hình thức luận của Nga Formalism Phê Bình Mới của Anh và Mỹ New Criticism Cấu trúc luận Structuralism Hậu cấu trúc luận / Giải cấu trúc Poststructuralism/Deconstruction Các lý thuyết Mác-xít Marxist Theories Thuyết người đọc Reader Theory Phân tâm học Psychoanalysis Nữ quyền luận Feminism Thuyết lệch pha Queer Theory Chủ nghĩa hậu thực dân Postcolonialism Chủ nghĩa hậu hiện đại Postmodernism Chủ nghĩa tân duy sử New Historicism và Chủ nghĩa duy vật văn hoá Cultural Materialism Về tài liệu tham khảo, tôi chỉ ghi những tác phẩm chính, mới và dễ tìm nhất, chủ yếu bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Nguyễn Hưng Quốc ___________________ CHỦ NGHĨA HẬU THỰC DÂN Lý thuyết hậu thực dân ra đời vào khoảng đầu thập niên 1990, trước hết, từ ảnh hưởng của cuốn Orientalism của Edward W. Said, xuất bản lần đầu năm 1978, trong đó, Said giải mã quan hệ quyền lực giữa phương ông và phương Tây qua các hình thức diễn ngôn, chủ yếu qua việc sáng tạo nên khái niệm phương ông’ như một “cái Khác” Other so với phương Tây. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc hình thành lý thuyết hậu thực dân chính là sự bất lực của các lý thuyết Tây phương trong việc lý giải tính chất phức tạp trong nền văn học các nước cựu thuộc địa. Hầu hết các lý thuyết về mỹ học, thể loại cũng như phong cách ở Tây phương trước đây đều được xây dựng trên tiền đề về tính phổ quát của văn học và triết học những gì đúng và hay ở nơi này thì cũng sẽ đúng và hay ở những nơi khác. Thực chất đó là một thứ chủ nghĩa độc tôn monocentrism về văn hoá và chính trị, kết quả của chủ nghĩa đế quốc và thực dân kéo dài nhiều thế kỷ trong lịch sử. Từ giữa thế kỷ 20, khi tất cả các thuộc địa dần dần đều được giải thực, người ta nhận thấy văn học từ các xứ cựu thuộc địa có cái gì không nằm hẳn trong các quy phạm vốn phổ biến ở Tây phương. Khám phá này trở thành tự giác và có sức thuyết phục mạnh mẽ với lý thuyết về một thứ chủ nghĩa phương ông của Edward W. Said lý thuyết hậu thực dân ra đời. Cũng như hầu hết các lý thuyết đã thành trường phái khác, lý thuyết hậu thực dân, thật ra, không phải là một cái gì thống nhất hoàn toàn. Tính chất thiếu thống nhất ấy thể hiện ngay trong cách viết một số người đề nghị dùng gạch nối ngăn giữa tiền tố hậu’ và từ thực dân’ post-colonialism như một dấu mốc thời gian nhấn mạnh vào quá trình giải thực ở các quốc gia cựu thuộc địa; một số khác – hiện nay đang là số đông – chủ trương viết liền, không có gạch nối postcolonialism để nhấn mạnh vào những hậu quả kéo dài đến tận ngày nay của chủ nghĩa thực dân. Ngoài sự khác biệt về thời gian, các lý thuyết gia cũng không đồng ý với nhau về không gian mà lý thuyết hậu thực dân bao trùm. Với một số học giả, cái gọi là văn học hậu thực dân chỉ giới hạn trong những tác phẩm được viết ra ở các quốc gia thuộc địa và trong thời gian thuộc địa; còn tác phẩm được các cây bút thực dân viết ra thì được xếp vào một phạm trù khác, mệnh danh là Diễn ngôn thực dân học’ Colonial Discourse Studies. Một số khác, đông hơn, quan niệm lý thuyết hậu thực dân bao trùm toàn bộ mọi nền văn hoá chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc từ thời bành trướng của thực dân cho đến tận ngày nay. Nghĩa là, không phải chỉ có nền văn hoá các nước thuộc địa mà cả văn hoá các quốc gia đi chinh phục và bóc lột các nước khác cũng nằm trong quỹ đạo của các ảnh hưởng ấy. Bởi vậy, trong phạm vi văn học, đối tượng nghiên cứu của lý thuyết hậu thực dân gồm hai nhóm chính một, các nhà văn và nhà thơ thuộc các quốc gia thực dân khi họ tiếp cận với các đề tài liên quan đến thực dân và thuộc địa; và hai, quan trọng nhất, những cây bút sống trong các thuộc địa, trong đó, có một số thuộc địa được hình thành chủ yếu từ những người di dân đến từ mẫu quốc như Úc, Tân Tây Lan, Canada và, trong chừng mực nào đó, có thể kể cả Mỹ, còn lại, các thuộc địa gồm tuyệt đại đa số là dân bản xứ, tức thuần là dân bị trị, như hầu hết các quốc gia Phi châu, các quốc gia vùng Caribbean, vùng đảo Nam Thái Bình Dương, Pakistan, Scri Lanka, Malaysia, Singapore, Bangladesh… và, dĩ nhiên, Việt Nam. Với nhóm trên, các nhà phê bình thuộc thuyết hậu thực dân tìm cách phân tích quá trình bóp méo kinh nghiệm, hiện thực và lịch sử chinh phục và bóc lột của các nhà văn, nhà thơ thực dân. Với nhóm dưới, họ tìm cách nhận diện những nỗ lực viết lại lịch sử và tái tạo bản sắc của các dân tộc thuộc địa qua văn học. Vấn đề trung tâm của các nền văn hoá và văn học hậu thực dân là quan niệm về cái khác’ otherness. Cái khác’ khác với sự khác biệt difference vì cái khác’ bao gồm cả sự khác biệt lẫn bản sắc cái khác’, tự nó, là một bản sắc và bản sắc ấy được hình thành chủ yếu trên sự phân biệt với những bản sắc khác đang chiếm giữ vị trí trung tâm. Nó là một thứ con rơi vừa được sinh ra vừa bị từ bỏ. Nó được tạo lập từ bảng giá trị mà nó luôn luôn tìm cách phủ nhận nếu thực dân là trật tự, văn minh, duy lý, hùng mạnh, đẹp đẽ và tốt lành thì thuộc địa lại là hỗn loạn, mông muội, cảm tính, yếu ớt, xấu xí và xấu xa. Sự phủ nhận ấy được thực hiện ở thế yếu, do đó, không bao giờ thực sự triệt để. Tính chất phân vân ấy làm cho người thuộc địa không những là những cái khác’ so với thực dân mà còn là những cái khác’ so với chính quá khứ của họ. Bởi vậy, dân tộc thuộc địa nào cũng, một mặt, ngưỡng vọng quá khứ, mặt khác, họ lại thấy rất rõ trong quá khứ ấy có vô số khuyết điểm cần được khắc phục. Hậu quả là quá khứ chỉ được khôi phục từng mảnh; và với những mảnh vụn ấy, người ta không thể tái tạo được cả lịch sử người dân thuộc địa, do đó, có thể nói là có rất nhiều quá khứ nhưng lại không có lịch sử. Bên cạnh ý niệm về cái khác’ là tính chất đề kháng. Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của tính chất đề kháng của các dân tộc thuộc địa là sự ra đời của chủ nghĩa quốc gia. Nằm ở trung tâm của chủ nghĩa quốc gia là ý niệm về bản sắc dân tộc. Trong nỗ lực xây dựng bản sắc dân tộc, các dân tộc thuộc địa thường loay hoay giữa sức đề kháng trước áp lực của văn hoá thực dân và những quyến rũ của tính hiện đại vốn gắn liền với nền văn hoá ấy, giữa hiện thực bản xứ và bảng giá trị xem chừng có tính sang cả và phổ quát ở Tây phương. Có thể xem thế áp đảo của các bảng giá trị này là một trong những chiến thắng lớn lao nhất của chủ nghĩa thực dân nó biến khái niệm Tây phương từ một thực thể địa lý thành một phạm trù tâm lý để với nó, người ta sẽ thấy phương Tây ở mọi nơi, thành cả thế giới văn minh, hơn nữa, thành mẫu mực của văn minh. Những tên tuổi tiêu biểu nhất của văn học hậu thực dân trên thế giới, về phương diện sáng tác, có Chinua Achebe, Marguerite Duras, Nadine Gordimer, Jamiaca Kincaid, V. S. Naipaul, Ngugi Wa Thiong’o, Michael Ondaatje, Salman Rushdie, Leopold Senghor, về phương diện lý thuyết, có Homi Bhabha, Frantz Fanon, Edward Said, Gayatri Chakravorty Spivak… và, đặc biệt, một người Việt Nam Trịnh Thị Minh Hà. Tài liệu tham khảo thêm Postcolonialism, a Very Short Introduction của Robert J. C. Young 2003, Oxford Oxford University Press; Postcolonial Theory A Critical Introduction của Leela Gandhi, St Leonards NSW, Australia Allen & Unwin; Culture and Imperialism của Edward W. Said 1993, London Vintage. Nguồn

các phương pháp phê bình văn học